Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện nhân gian. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện nhân gian. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Người Thổi Sáo Thành Hamelin


Chuyện kể rằng ở phía Bắc nước Đức bên bờ Weser có thành phố thanh bình mang tên Hamelin, nơi đây người dân thiện lành và chăm chỉ, nhờ giao thương mua bán mà mau chóng trở nên phát triển thịnh vượng.

Yên bình không bao lâu, thảm kịch đã xảy ra. Như bao nhiêu nơi đông đúc khác, Hamelin có chuột sinh sống nhưng chẳng sao cả, mọi việc đã có lũ mèo xử lý. Và rồi đột nhiên lũ chuột sinh sôi nảy nở, chúng trở nên đông đúc một cách đáng sợ, từng đàn đen ngòm kéo nhau ùn ùn bò qua thành phố khiên người dân khiếp sợ. Ban đầu chúng tấn công những kho lương thực, tất cả lúa mì, ngũ cốc trong thành phố đều bị ăn sạch. Sau đó, chúng ăn ất cả những thứ có thể nhai được như gỗ, vải vóc, các loại vật nuôi, thậm chí là cả mèo. Chỉ có sắt thép là thứ duy nhất không bị ngốn vào mồm của bọn gặm nhấm. Ban đầu người ta tìm mọi cách để xua đuổi chuột nhưng chúng ngày càng đông, to lớn và hung hãn, chúng tấn công cả con người. Người dân hoảng loạn, họ tìm đến tòa thị chính và yêu cầu ông Thị trưởng cho mình một câu trả lời. Rất nhiều sáng kiến được đưa ra như là một đội quân mèo, tuy nhiên mèo đã bị ăn sạch không còn lấy một con. Bẫy lũ chuột bằng thuốc độc? Rất tiếc, chẳng còn một miếng phô mai hay bánh mì nào để làm mồi cả. Trong khi Thị trường đang vò đầu bức tóc vô cùng khốn khổ thì có một vị khách đến tìm ông ta_một chàng trai ăn mặc khá sặc sỡ với chiếc mũ to đính lông vũ cầm theo một cây sáo bằng vàng, hắn ta bảo rằng:

- Tôi đã giúp vài nơi khác thoát khỏi nạn bọ và dơi, nếu Ngài đồng ý, tôi sẽ giúp Ngài quét sạch lũ chuột chỉ với một ngàn florin!

- Thật tuyệt! Nếu cậu làm được điều đó, tôi có thể thưởng tận năm mươi ngàn florin chứ đừng nói là một ngàn. _ Thị trưởng hồ hởi đáp.

Hắn ra về kèm theo lời hứa rằng ngày hôm sau sẽ không còn dấu vết một con chuột nào ở Hamelin nữa. Sáng hôm sau, người ta nghe thấy văng vẳng tiếng sáo quanh thành phố, hắn đi qua từng con phố với sáo vàng trên tay, kéo theo là bầy chuột khổng lồ và rồi không hề sợ hãi, người thổi sáo bước xuống dòng Weser khi con nước đang chảy siết. Lũ chuột đờ đẫn bò theo rồi bị dòng thủy lưu nhấn chìm, cuốn trôi tất cả về phía hạ nguồn. Dân chúng reo hò vì thoát khỏi nạn gặm nhấm, cả tòa thị chính cũng bắt đầu đãi tiệc ăn mừng. Người thổi sáo tìm đến và yêu cầu nhận số tiền thưởng như thỏa thuận nhưng...không!

- Cậu điên à? Ta hứa với cậu năm mười ngàn florin khi nào? Ai có thể làm chứng? Ta không đời nào hứa như vậy. Thậm chí một ngàn florin là quá đắt đỏ cho việc đuổi mấy con chuột ranh! _Ông Thị trưởng quả quyết.

- Trong lúc các người khổ sở, tôi đã đến đây giúp đỡ không ngại nguy hiểm đến tính mạng của mình và bây giờ các người lật lọng, ít nhất thì cũng phải trả cho tôi một ngàn florin!

Mặc kệ người thổi sáo có vẻ ấm ức, ông Thị trưởng quẳng cho cậu ta năm mươi florin. Trong mắt của hắn ánh lên sự căm thù vô tận và hắn tự nghĩ: "Chắc chắn bọn tráo trở các người sẽ phải trả giá!". Lúc đấy, Ngài Thị trưởng vẫn rất vui vẻ trên bàn tiệc và tuyên bố:

- Thế là chúng ta đã tiết kiệm được những năm mươi ngàn florin!



Sau thảm họa chuột, Hamelin dần hồi phục, thành phố trở lại diện mạo cũ của nó, không còn tiếng chuột kêu mà thay vào đó tiếng cười đùa đáng yêu của bọn trẻ. Tờ mờ sáng của một ngày kia, khi tất cả mọi người còn đang cuộn mình trong chiếc chăn ấm áp, những đứa trẻ trong thành phố bỏ ra khỏi nhà mà cha mẹ chúng không hề hay biết. Chúng thậm chí trèo khỏi cửa sổ hoặc leo qua tường với ánh mắt vô hồn, đi thành từng hàng dài theo tiếng sáo ma mị. Dẫn đầu là người thổi sáo ngày trước bộ trang phục thợ săn và chiếc mũ đỏ kì lạ, mắt hắn đen lại đầy sát khí. Đám trẻ con như những cái xác không hồn bước theo người thổi sáo đi về phía ngọn núi, trong đó có cả con gái của Ngài Thị trưởng. Đoàn người bước đi trong sương mù tựa như những hồn ma bóng quế theo chân một gã phù thủy vối cây sao tà thuật trong tay. Họ đi vào một hang động sâu hun hút và khi đứa trẻ cuối cùng bước vào hang, viên đá khổng lồ lăn xuống đóng sầm của hang lại. Sau đó, trận lở đất xảy ra, toàn độ đất đá đóng chặt đường đến miệng hang.

Mọi người thức giấc chẳng thấy con mình đâu, họ hoảng hốt tìm kiếm khắp nơi. Tiếng gọi con của các ông bố và tiếng khóc vô vọng từ những người mẹ khiến thành phố trở nên vô cùng ảm đạm và tang tóc. Một đứa trẻ tật nguyền được tìm thấy dưới lớp đá đã kể lại mọi chuyện khi nó không thể đuổi kịp dòng người bị thôi miên ấy. Người ta kéo nhau đến chân núi đào bới với hy vọng tìm lại những thiên thần nhỏ, nhưng chúng sẽ chẳng bao giờ trở lại khi bước qua cánh cổng đó. Họ đã phải đánh đổi để giữ lại năm mươi ngàn florin.

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Thập Đại Mỹ Nam Nhân Trung Quốc Phần 2

7. Hàn Tử Cao



https://khotangtruyenthuyet.com 

Hàn Tử Cao, người Sơn Âm, Cối Kê, Lương Triều, xuất thân từ tầng lớp hạ tiện, phải mưu sinh bằng nghề làm giày dép. Tương truyền, chàng có “diện mạo đẹp đẽ, khiết bạch sáng tươi, tựa như người ngọc. Tráng vuông tóc mượt, mày tằm tự nhiên, ai thấy đều mến” Dung mạo diễm lệ, tiên nghiên khiết bạch, như mỹ phụ nhân. Tần thủ cao phát, tự nhiên nga mi, kiến giả mị bất trách trách). Xét về khuôn mặt đẹp, thì Hàn Tử Cao hơn hẳn Chu Tiểu Sử - một mỹ thiếu niên nổi tiếng đời Tấn). Tử Cao sinh ra trong thời loạn quân, kẻ địch mặc sức huơ chiếc thương dài mà chém giết điên dại, nhưng khi nhìn thấy Hàn Tử Cao thì lại vứt bỏ binh khí trong tay, lại chẳng có ai nỡ lòng sát hại chàng, dù là một sợi tóc. Sử viết rằng: Lính cuồng huơ thương sắc nhưng vì lòng bất nhẫn nên chỉ huơ xuống nửa chừng, có tên lại giúp chàng vượt ra xa. Từ đó có thể thấy Hàn Tử Cao đẹp đến mức nào. Không chỉ có khuôn mặt đẹp mà chàng có thân hình cao dong dỏng, đôi tay dài, thiện việc bắn tên cưỡi ngựa, dáng hình tuấn tú, da thịt đầy mị lực, quả thực là rất đỗi đẹp đẽ, khiến người ta không thể quyến luyến. Có biết bao nhiêu thiếu nữ, trong đó có cả công chúa Trần Triều , họ đều thương thầm Tử Cao đến si dại, đêm ngày tưởng nhớ khiến ho ra máu mà chết.

Nhưng Hàn Tử Cao lại cam tâm hạ mình hầu hạ Trần Văn đế Trần Tây của Nam triều (đây là một người đồng tính luyến ái), họ ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, ngày đêm không cách xa nhau. Và lại do một lời của Tử Cao, Trần Tây đã nổi giận và tiêu diệt cả dòng họ Vương Tư Mã , cuối cùng đã tạo nên kết cuộc triều Lương bị diệt vong và triều Trần được kiến lập. Trong lịch sử Trung Quốc, đây là một câu chuyện độc nhất vô nhị nói về một người vì cuộc tình đồng tính mà dẫn đến cuộc biến loạn vương triều. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc, Hàn Tử Cao là người đề xướng ra khái niệm nam hoàng hậu , tuy rằng chưa trở thành hiện thực, nhưng sự thật về sắc đẹp khuynh thành của Hàn Tử Cao lại không thể phủ nhận. Khi Trần Tây bị bệnh, Tử Cao đã hầu nước bưng thuốc, giây phút không xa, khiến cho Trần Tây được an ủi rất lớn trong những giờ phút sắp lìa đời. Tất cả mọi người trong một hoàng cung rộng lớn đều bị đuổi ra ngoài cửa, chỉ riêng Hàn Tử Cao được hầu hạ Trần Tây, sống qua khoảng thời gian cuối cùng của hai người. Sau khi Trần Tây mất, Tử Cao bị ban cho tội chết, khi ấy chàng chỉ mới ba mươi tuổi.


8. Lữ Bố

        
https://khotangtruyenthuyet.blogspot.com/


Lữ Bố tên chữ là Phụng Tiên , người Cửu Nguyên, quận Ngũ Nguyên thời Tam quốc, làm quan đến chức Ôn hầu, thân thể cao lớn (ước trên một mét chín), tướng mạo anh tuấn, võ nghệ cao cường. Không những quần áo hoa lệ, Lữ Bố còn rất thích khoe mã. Mỗi khi đi ra ngoài là chàng “phong thái hiên ngang, uy phong lẫm liệt, tay cầm chiếc họa kích Phương Thiên, mắt long lên mà nhìn”, quả thực là rất nam tính. Chàng thường cầm một chiếc hoạ kích trong tay, ngồi trên con ngựa quý Xích Thố, đi khắp nơi để tán gái, người đương thời thường nói “trong nhân gian có Lữ Bố, trong loài ngựa có Xích Thố” (Nhân trung Lữ Bố, mã trung Xích Thố”. Gái đẹp phần nhiều tự yêu mình, trai đẹp cũng không ngoại lệ. Khi làm thuộc hạ của Đinh Nguyên, Lữ Bố cũng “kết tóc đỉnh đầu đội mũ vàng, khoác áo chiến bào Bách Hoa, mình mang áo giáp Đường Nê, buộc thắt lưng sư tử báu”, trông rất có dáng. Sau khi về với Đổng Trác, Lữ Bố cũng đua đòi xa xỉ: ‘Đầu đội mũ vàng tía, tóc kết làm ba, mình khoác áo bào Bách Hoa bằng gấm đỏ của Tứ Xuyên, mang áo giáp có hình mặt thú nuốt đầu liên hoàn, buộc thắt lưng sử tử Giáp Linh Lung’, trông như một vị vua trên thiên đình, khiến ngay cả đại mỹ nhân Điêu Thiền ( thường gọi là Điêu Thuyền) cũng phải động lòng.

Lữ Bố không chỉ thạo về việc dùng hoạ kích, chàng còn rất thiện việc bắn tên, đây cũng chính là ngón nghề mà chàng rất tự hào. Võ nghệ chàng cao siêu, ba người Quan Vũ, Trương Phi, Lưu Bị liên thủ lại thì mới có thể miễn cưỡng thắng được chàng. Luận về võ nghệ cá nhân, vào thời Tam quốc thì chàng quả là vô địch thiên hạ.

Nhưng đây lại là người thường hay phản phúc, vô nhân nghĩa, tráo trở đa đoan. Đầu tiên, Lữ Bố bái Đinh Nguyên làm nghĩa phụ, nhưng một kẻ bị chàng “trừng mắt mà nhìn” như Đổng Trác chỉ cần dùng con ngựa Xích Thố và ngọc đới Kim Châu để ra lệnh chàng giết Đinh Nguyên và theo về Đổng Trác thì chàng lại tuân lời. Điều này cũng không thể trách cứ Lữ Bố, vì chàng vốn xuất thân từ gia đình nghèo khổ, ngoài võ công vô địch thiên hạ ra thì chàng chẳng có một thứ gì. Chàng chẳng khác gì một tuyệt thế giai nhân xuất thân từ tầng lớp bình dân vậy, khi đối mặt với một kẻ dùng tiền tài và của cải để khuyến dụ chàng, thì trên thế gian này có mấy ai lại không vứt bỏ tình xưa? Sau khi Lữ Bố trở thành thuộc hạ của Đổng Trác, do tư thông với Điêu Thiền, sợ việc xấu bị phơi bày nên đã cùng với Tư Đồ Vương Duẫn cùng nhau mưu sát Đổng Trác. Khi Thào Tháo chinh phạt Từ Châu, Lữ Bố nhân cơ hội đã tiến hành đánh úp căn cứ địa của ông ta, sau lạ nhiều lần tác chiến với Tào Tháo, sau do tên thủ hạ là Hầu Thành làm phản nên Lữ Bố đành phải đầu hàng.

Ở lầu Bạch Môn, Lữ Bố bị bắt giữ. Lưu Bị nói với Tào Tháo rằng: “Ông không thấy câu chuyện của Đinh Nguyên, Đổng Trác đấy sao?” Kỳ thật, Lưu Bị biết rằng mình đố kỵ với Đinh Nguyên, Đổng Trác, bởi vì bản thân Lưu Bị cũng muốn có được Lữ Bố. Lữ Bố quả thực rất đẹp, vẻ đẹp hoàn hảo ấy khiến người ta yêu mến thắm thiết, mà yêu mến tất sẽ khiến người ta mù quáng. Ông ta biết rằng bất kỳ ai có được Lữ Bố cũng đều sẽ dành trọn tình cảm của mình cho Lữ Bố, một anh hùng như Tào Tháo cũng không ngoại lệ (có thể thấy được điểm này khi ông ta đối đãi với Quan Vũ sau này). Nếu như thế, Tào Tháo có thể sẽ tiếp gót theo Đinh Nguyên, Đổng Trác về nơi chín suối, bản thân của Lưu Bị sẽ hạ được một đối thủ cạnh tranh lớn nhất ở đất Trung Nguyên, và Lữ Bố cũng sẽ không chết. Nhưng Lưu Bị cũng không thể đành lòng để Tào Tháo giành lấy Lữ Bố. Cái mà Lưu Bị không có được thì người khác cũng đừng mong có được. Đây chính là logic của Lưu Bị, vì thế mà ông ta càng muốn Lữ Bố phải chết. Riêng về Thào Tháo, tuy rằng rất muốn có được Lữ Bố, nhưng bản thân ông ta cũng không muốn trở thành Đinh Nguyên, Đổng Trác thứ hai, lại đành phải giết Lữ Bố. Xem ra, “hồng nhan bạc mệnh” không những được dùng để chỉ số phận của các mỹ nữ, mà nó còn sử dụng rất thích hợp cho đệ nhất mỹ nam thời Tam quốc này.

9. Kê Khang

https://khotangtruyenthuyet.blogspot.com/


Kê Khang, tên chữ là Thúc Dạ , người huyện Chí , quận Tiêu (nay là huyện Túc tỉnh An Huy), là nhân vật lãnh tụ trong nhóm “Trúc lâm thất hiền” . Kê Khang chính là một nhà tư tưởng, một thi sĩ và một nhạc sĩ nổi tiếng của thời Nguỵ mạt (thời kỳ Tam quốc), đây còn là một nhân vật đại diện cho trường phái huyền học đương thời. Kê Khang mồ côi cha từ bé, nhưng nhân cách đáng kính hơn người: lòng thẳng thắn cương trực, cần mẫn học hành và có chí hướng của chim hồng chim hộc. Sau Kê Khang cưới cháu của Tào Tháo (con gái của Tào Lâm) làm vợ. Khi họ Tào vẫn đang nắm quyền thì Kê Khang đã làm quan đến chức Trung tán đại phu.

Kê Khang là một tác gia rất hiếm thấy của Trung Quốc cổ đại, vừa tinh thông văn học, huyền học và âm nhạc, lại vừa anh tuấn, phong độ. Người ta đã hình dung về Kê Khang như sau: “uy phong như con rồng, tư thái như con phượng, thiên chất rất tự nhiên” (Long chương phụng tư, thiên chất tự nhiên). Sử chép rằng, Kê Khang “thân cao bảy thước tám tấc, phong thái cao nhã, những người gặp chàng đều khen rằng: phong độ tự nhiên, sảng khoái rất mực, cử chỉ thanh thoát. Hoặc bảo rằng: Phong độ như ngọn gió dưới tàn thông, thanh cao mà từ tốn”. Để minh chứng cho nhận định này là một câu chuyện sau: một lần Kê Khang vào rừng sâu hái thuốc, có một tiều phu trông thấy bèn ngờ chàng là thần tiên hạ phàm, chỉ vì phong thái của Kê Khang quả thực chẳng thể nào nhầm lẫn với người thường được.

Kê Khang rất yêu thích âm nhạc, trong bài tựa “Cầm phú” (, chàng nói rằng: “Từ nhỏ ta đã yêu thích âm nhạc rồi, khi lớn lên thì tìm tòi học tập, bởi lẽ rằng vật có lúc thịnh lúc suy nhưng riêng âm nhạc thì không hề thay đổi; mùi vị có thể ngấy nhưng âm nhạc thì không chán” Dư thiếu háo âm thanh, trưởng nhi tập chi, dĩ vi vật hữu thịnh suy nhi thử vô biến. Tư vị hữu yếm nhi thử bất quyện). Đối với đàn và nhạc truyền thống lẫn đương đại, Kê Khang đều rất quen thuộc, điều này có thể thấy được trong bài “Cầm phú” của chàng.

Theo ghi chép của Lưu Tịch trong “Cầm nghị” thì, Kê Khang đã học được “Quảng Lăng Tán” từ con trai của Đỗ Quỳ là Đỗ Mãnh . Kê Khang rất thích nên thường xuyên đàn khúc nhạc này, đến nỗi có rất nhiều người đến xin học nhưng chàng nhất quyết không truyền lại. Sau khi dòng họ Tư Mã lên nắm chính quyền, chàng không muốn hợp tác vớI kẻ thống trị mới này, bèn cùng Nguyễn Tịch , Hướng Tú , Sơn Đào , Lưu Linh , Nguyễn Hàm, Vương Nhung kết làm “Trúc lâm thất hiền”, đối kháng với dòng họ Tư Mã. Sau bị họ Tư Mã sát hại, khi mất chỉ mới bốn mươi tuổi. Trước khi hành hình chàng, có đến ba ngàn thái học sinh đến cầu xin cho chàng nhưng cuối cùng cũng không có kết quả. Trước khi chết, chàng gảy lại khúc nhạc này, đồng thời thở dài và bảo rằng: “Quảng Lăng tán nay đành mất rồi”. Ngày nay, khi khai quật mộ phía nam của cầu Tây Thiện, Nam Kinh, người ta tìm thấy bức gạch có vẽ hình Kê Khang, trong đó khắc hoạ hình ảnh của một Kê Khang đang ngồi khảy đàn, cốt cách hiên ngang mà thanh thoát.

Kê Khang lại là người có đường nhân duyên rất tốt. Vương Nhung bảo rằng, kết giao với chàng trong suốt hai mươi năm mà chưa từng lúc nào thấy chàng tỏ vẻ khó chịu ra mặt, chính vì thế mà người đương thời truyền với nhau về chàng bằng một cái mỹ danh: “ý tứ xa xôi, tâm tính khoáng đạt” Ý thú sơ viễn, tâm tính phóng đạt). Nhưng Kê Khang lại có “lòng dạ cương trực, căm ghét cái xấu, thẳng thắn ngạo nghễ, hễ gặp chuyện thì bộc phát” . Bài văn nổi tiếng “Thư tuyệt giao với Sơn Cự Nguyên” cùng với niềm đam mê đối với khúc Quảng Lăng tán của chàng chính là sự thể hiện một tính cách căm ghét thói đời, ngạo nghễ bất khuất của chàng. Cũng chính vì thế mà chàng khinh thường Tư Mã Chiêu , khiến chàng phải gặp hoạ sát thân, đây cũng chính là một ví dụ điển hình của tính cương trực, không a dua, xu nịnh kẻ nắm quyền.

10. Tống Văn Công


https://khotangtruyenthuyet.blogspot.com/


Khi Tống Văn công khi chưa làm quốc vương thì chàng là công tử của nước Tống, được gọi là Công tử Bào .
Nếu theo lẽ thông thường thì chàng vốn là chưa đến lượt làm quốc vương, mà có thể sẽ chỉ là một công tử sống một đời an nhàn. Nhưng lý do gì đã khiến lịch sử có sự phát triển bất thường như thế, khiến một Công tử Bào có thể ngồi lên ngôi báu của quốc vương nước Tống? Nguyên nhân ở đấy chình là vì chàng rất đẹp trai!

Có phải chỉ vì chàng đẹp trai mà từ một Công tử Bào đã biến thành một Tống Văn công? Nhưng sự thật lại là như thế, tuy rằng quá trình này hoàn toàn không đơn giản và dễ dàng chút nào. Vậy thì tại sao lại có thể xuất hiện một câu chuyện thoạt nhìn có vẻ hoang đường đến vậy? Đó là vì có một người phụ nữ đã yêu chàng. Người phụ ấy không phải là người xa lạ, mà đó là mẹ kế của chàng – phu nhân của Tống Tương công – em gái của Chu Tương vương , tên là Vương Cơ .

Tả truyện, Văn công thập lục niên chép rằng: Công tử Bào là một đại mỹ nam vô cùng tươi đẹp, vì thế mà lọt vào mắt xanh của Vương Cơ, một goá phụ trung niên sống cô độc trong chốn thâm cung nhưng khó lòng chịu sự cô tịch, và bà ta rất muốn cùng chàng tư thông. Nhưng nếu chàng không đồng ý thì làm thế nào? Vương Cơ bèn vắt óc ra trăm phương ngàn kế để lấy lòng Công tử Bào: Công tử Bào không muốn ban bố ơn huệ cho người trong nước đó sao? Vậy thì, hãy để ta giúp chàng, có đồng ý không? Nếu vẫn chưa đồng ý, thế thì ta cam tâm hiến dâng giang sơn nước Tống này cho chàng vậy!

Năm Chiêu công thứ chín, Tống Chiêu công ra ngoài săn bắn, đây quả tình là một cơ hội mà ông trời đã dành tặng cho Vương Cơ, bà ta bèn phái người ám sát Chiêu công, rồi lập em trai của Chiêu công là Công tử Bào lên ngôi vị quốc vương. Một câu chuyện thần thoại vang danh thiên cổ do đẹp trai mà được nước vì thế mà đã thành sự thật. Theo Tả truyện, việc Chiêu công đi săn chính là do Vương Cơ xúi giục; hơn nữa, Chiêu công cũng dư biết rằng Tương phu nhân sẽ giết mình, nhưng đành xuôi theo số phận, chỉ biết khoanh tay chờ chết. Điều đó cũng chứng minh rằng, Chiêu công đã bị Tương phu nhân khống chế, việc Vương Cơ dâng hiến nước Tống cho Công tử Bào quả là chuyện dễ như trở bàn tay.

Một người đẹp trai đến nỗi đã khiến cho mẹ kế xiêu lòng và muốn tư thông như Tống Văn công cuối cùng còn là một người như thế nào ngoài vẻ đẹp trai của mình? Đó là một người có thể nói là tốt, ít nhất là tốt hơn so với người anh trai mang tiếng là “vô đạo” của mình – Chiêu công. Tả truyện viết rằng, chàng là người rất giữ chữ lễ, Sử kỳ cũng chép rằng, chàng hiền lương và khiêm tốn, đương nhiên đó là những thái độ mà một Công tử Bào cần có khi muốn mua chuộc lòng người. Nhưng bất luận là thế nào, cái giá mà chàng phải trả là như thế nào thì kết quả cũng là: vì chàng đẹp trai mà được nước.

----------------------------


Thập Đại Mỹ Nam Nhân Trung Quốc Phần 1

1. Phan Nhạc


https://khotangtruyenthuyet.blogspot.com/

Phan Nhạc - một tên khác của Phan An, là người Hà Nam sống vào thời Tây Tấn, tên chữ là An Nhân , biệt hiệu là Đàn Nô . Đây là một kỳ nhân của lịch sử Trung Quốc cổ đại, sở hữu một tư dung đã tốt, tinh thần thêm đẹp (tư dung ký hảo, tinh thần diệc giai), vì thế trong dân gian có câu: “mặt tựa Phan An” (mạo tỷ Phan An). Thời trẻ, Phan Nhạc có lần cưỡi xe ra ngoài thành Lạc Dương chơi, lúc ấy có rất nhiều phụ nữ luống tuổi sau khi gặp đều bất giác quay đầu lại nhìn, thậm chí có người si mê đã chạy đuổi theo. Do vậy, Phan An sợ đến mức thường không dám ra ngoài cửa. Có nhiều cô gái đang tuổi hoa niên cảm thấy khó có cơ hội được gần gũi, bèn ném quả vào xe của chàng, cứ mỗi lần trở về thì xe của chàng cũng đầy những quả chín, vì vậy mà trong dân gian thường nói “ném quả đầy xe”. Sau này, biệt hiệu “Đàn Nô” hay “Đàn Lang” sử dụng trong văn học cũng đã trở thành từ ngữ dùng để gọi một chàng trai nào đó được xem là tuấn tú. Có một người có dung mạo cực kỳ xấu xí tên là Trương Mạnh Dương cũng bắt chước dáng điệu Phan Nhạc và đi ra ngoài thành chơi, nhưng mỗi lần ra khỏi cửa thì các chị em đều nhổ nước bọt, ném đá vào xe của anh ta, thế là, xe của anh ta cũng chất đầy đá mà trở về. Đây quả thực là một phiên bản khác của câu chuyện Đông Thi hiệu tần (Đông Thi bắt chước dáng điệu nhăn mặt của Tây Thi)!
Không những là một người có diện mạo đẹp như gấm thêu, mà Phan Nhạc còn là một người viết ra những áng văn chương cũng đẹp như hoa như gấm: từ nhỏ đã lộ rõ tài năng văn chương thiên phú, được người trong làng gọi là kỳ đồng. Vào năm chàng 12 tuổi, một lần Tấn Võ Đế Tư Mã Viêm nhân lúc cao hứng đã ra lệnh cho mọi người viết văn thơ, kết quả là tác phẩm của Phan Nhạc là bài hay nhất. Các quan đại thần nhìn qua, tác giả của bài thơ ấy là một tên mặt trắng còn non nớt, bèn lấy làm ganh ghét, lập tức đuổi chàng ra khỏi triều đình. Sau mười năm nhàn nhã với thơ phú, Phan Nhạc cuối cùng cũng đã được thu dụng làm quan, giữ chức huyện thái lệnh huyện Hà Dương và cũng có chút công lao đối với việc triều chính. Lúc ấy, ở huyện Hà Dương có trồng rất nhiều cây đào nên người ta gọi chàng là “nhất huyện hoa”. Từ đó về sau, con đường quan lại của chàng luôn không được suôn sẻ mà có lúc thăng lúc giáng, mãi đến năm Nguyên Khang thứ sáu (296), chàng mới trở về Lạc Dương nhậm chức Kinh quan. Một chàng thiếu niên đầy tài năng và dung mạo tuyệt thế của ngày xưa giờ tóc đã hoa râm, đã nếm đủ mọi đắng cay gian khổ trên chốn quan trường, tai đã nghe qua và mắt đã thấy qua những người luôn a dua xu phụ kẻ khác.

Lúc này, quyền lực chính trường rơi vào tay của mụ hoàng hậu xấu xí Giả Nam Phong. Cháu bên ngoại của mụ là Giả Ích rất thích kết giao qua lại với các quan khách, cùng nhau tổ chức nên một hội văn nhân có tên là “Nhị thập tứ hữu” (hai mươi bốn người bạn), dùng chữ nghĩa để dấy lên cơn phiến động trong tập đoàn ngoại thích của Giả hậu. Trong khi đó, mụ ta muốn phế truất thái tử, nhưng Phan Nhạc lại là người bất hạnh khi rơi vào trong âm mưu này: Giả Nam Phong đã phái một quan nhân dưới trướng của mình chuốc cho thái tử uống say rồi bắt Phan Nhạc viết một bài văn tế thần, đồng thời bắt thái tử sao chép lại. Thái tử do uống say nên thần trí không được minh mẫn, đành viết bừa một lúc. Sau khi nhận bài văn của thái tử xong, Phan Nhạc lại sửa một vài nét chữ, biến nó thành một bài văn có ý phản nghịch, khiến thái tử phải bị phế truất, mẹ đẻ của thái tử bị bức tử. Tuy không phải là người lập ra kế hoạch phế truất thái tử, nhưng rõ ràng Phan Nhạc lại là người có vai trò làm khuấy động nên âm mưu này, do vậy, tuy gian kế đã thành công nhưng chàng cũng không được yên. Sau khi thái tử mất, Triệu vương Tư Mã Luân lấy cớ báo thù bèn dấy cơn binh biến và tấn công vào cung, dẹp bè đảng của Giả hậu. Trước đấy, Phan Nhạc đã từng đắc tội với người bạn của Triệu vương nên sau cuộc loạn Bát vương, Triệu vương Tư Mã Luân vừa đoạt được chính quyền đã lập tức ra lệnh bắt Phan Nhạc và phán định hình phạt tru di tam tộc.

Trong cơn loạn Bát vương, Phan Nhạc lại là người tham gia tích cực, vì thế mà chàng phải mang một tội danh lớn: giúp hổ làm ma. Nhưng không vì thế mà vấn đề công và tội của chàng làm mờ đi nét tài hoa trong văn phong, sự tinh tế trong miêu tả của chàng.

Trong cuộc sống, Phan Nhạc là một người rất tốt. Đính hôn từ năm hơn mười tuổi, đối với người vợ kết tóc xe tơ họ Dương, chàng rất mực chung tình. Dương thị mất năm Nguyên Khang thứ 8 (298) khiến Phan Nhạc đau buồn triền miên, viết nên những bài từ điếu vong chứa đầy tình cảm son sắt keo sơn, và đây cũng chính là những bài hay nổi tiếng trong mảng đề tài này. Nhưng đáng tiếc là do mộng công danh quá nặng, gấp gáp trên đường thăng tiến, lại không biết thoả mãn với những gì đã có nên cuối cùng chàng phải mang tội tử.

2. Lan Lăng Vương

 

https://khotangtruyenthuyet.blogspot.com/

Lan Lăng Vương tên là Cao Trường Cung lại có tên là Cao Hiếu Quán , là cháu của Cao Hoan – một vị đại thừa tướng phong lưu anh hùng khởi nghiệp từ bàn tay trắng, một vị đại thần của Đông Nguỵ. Sau khi ông mất, trưởng tử của ông là Cao Trừng tiếp tục lên làm quyền thần thời Đông Nguỵ. Cao Trừng rất sáng suốt trên mảng chính trị, nhưng vào năm 29 tuổi thì lại chết trong tay của bọn nô lệ, để lại sáu đứa con nheo nhóc; trong đó, người con thứ tư đã trở thành Lan Lăng vương được truyền danh ngàn đời nay.

Cao Trường Cung rất kiêu dũng thiện chiến. Tương truyền rằng, vì chàng có vẻ ngoài rất dịu dàng đẹp đẽ, không đủ làm cho kẻ địch khiếp sợ, nên mỗi lần ra trận đều phải đeo chiếc mặt nạ dữ tợn vào. Đời sau có một câu chuyện nổi tiếng kể lại rằng: một lần đi cứu viện Lạc Dương, chàng lãnh suất năm trăm kỵ sĩ, xông qua vòng vây của quân Chu, đột nhập vào thành Lạc Dương. Các binh lính trên thành không nhận ra là ai đã đến, cứ chần chừ vì hoài nghi đó là mưu kế của quân địch. Lan Lăng Vương bèn cởi bỏ khôi giáp (chú ý: đây là chiếc mũ trụ lớn che phần mặt mà không phải là mặt nạ; điển cố “Lang Lăng Vương đeo mặt nạ” có lẽ là do người đời sau thêm thắt vào) để cho binh lính nhìn thấy rõ diện mạo của mình, binh lính trên thành lòng bỗng rúng động vì trông thấy tôn dung, bèn có hơn trăm cung thủ bước đến nghênh đón. Thế là quân Chu nhanh chóng bị đuổi chạy. Để chức mừng thắng lợi, các binh lính đã sáng tác ra Lan Lăng Vương nhập trận khúc , rồi đeo mặt nạ vào và vừa múa vừa hát. Sử sách ghi chép rằng: “Trường Cung dung mạo dịu dàng nhưng lòng mạnh mẽ, quả thực tài mạo song toàn. Hết lòng yêu thương tướng sĩ, mỗi khi được cái gì thì cũng đều chia sẻ cùng tướng sĩ, dù là chỉ một vài quả dưa
Trường Cung mạo nhu tâm tráng, âm dung kiêm mỹ. Vị tướng cung cần tế sự, mỗi đắc cam mỹ, tuy nhất qua sổ quả, tất dữ tướng sĩ cộng chi).

Sau này, không biết vì sao mà Cao Trường Cung lại mắc phải một cái tật: tham tiền tài, của hối lộ ra vào tấp nập, khiến cho nhân dân bán tán xôn xao. Thuộc hạ của chàng là Uất (Uý) Tương Nguyện hỏi rằng: “Bổng lộc của ngài cao như thế, hà tất phải tham lam như thế?”. Trường Cung không biết trả lời thế nào. Tương Nguyện bảo: “Có phải ngài sợ mình có công lao quá lớn, chúa thượng có điều e dè nên ngài cố ý bôi một tý tiếng xấu lên mặt mình?”. Trường Cung mới thốt rằng: “Chính phải”. Tương Nguyện nói: “Nếu triều đình đã tỏ lòng e dè ngài mà ngài làm như thế thì chẳng phải là tự mình thòi chóp ra cho người ta nắm hay sao? Ngài muốn cầu phúc nhưng lại rước lấy hoạ đấy”. Trường Cung ứa nước mắt, quỳ mọp xuống, xin anh ta hiến cho cách để được yên thân. Tương Nguyện nói: “Uy danh của ngài quá lớn, tốt nhất là nên ở nhà dưỡng bệnh, đừng có can dự vào chính sự nữa làm gì”. Trường Cung nghe lời khuyên can xong, bèn giả bệnh, nhưng lòng lại nghĩ nếu gác bỏ tất cả thì không cam tâm. Một nam tử hán đang tuổi hoa niên, ai lại muốn thoái lui? Huống chi chàng lại chẳng có một tính cách của một ẩn sĩ.

Hoàng đế Cao Vỹ của cuối thời đại Bắc Tề một ngày nọ nghe Lan Lăng Vương nhập trận khúc bèn nói với Cao Trường Cung rằng: “Nhập trận quá sâu, chắc chắn nguy hiểm, nếu nhỡ thất bại, hối hận không kịp”. Trường Cung vô ý buột miệng: “Việc nhà đau đáu, thần đâu thể làm ngơ” (Gia sự thân thiết, bất giác toại nhiên). Cao Vỹ nghe thấy hai chữ “việc nhà”, trong lòng nảy sinh hiềm nghi, bèn sai người mang đến cho chàng một chung độc dược. Thế là, hoàng đế giết người mà hoàn toàn không có một lý do nào. Năm Cao Trường Cung mất không được ghi lại trong sách sử, chỉ ước đoán rằng lúc ấy chàng khoảng ba mươi tuổi. Chàng mất đi để lại Trịnh phi goá phụ sớm hôm sống trong đau khổ cùng cực, nàng bèn quy y nơi cửa Phật và sống hết đời của mình tại đấy. Bốn năm sau, nước Bắc Tề do đã mất đi rường cột nên không còn vững mạnh, bị Vũ Văn thị tiêu diệt, con cháu của họ Cao (dòng hoàng thất) toàn bộ đều bị giết sạch.

3. Vệ Giới


https://khotangtruyenthuyet.blogspot.com/

Chúng ta còn nhớ đến Vệ Quán , người đã giết hai cha con Trịnh Ngải sống vào thời Tam Quốc hay không? Vệ Giới, tên chữ là Thúc Bảo , chính là cháu của ông ấy. Nói về sắc đẹp của Vệ Giới, trong Tấn thư có dùng đến những từ như “minh châu”, “ngọc nhuận”. Chàng thuộc kiểu người yêu ghét không lộ ra mặt, nhìn chung là một người ngọc có nét mặt vô tình. Từ thời thơ ấu, chàng trai này đã có khí chất kỳ lạ hơn người, khi ngồi trên xe cho dê kéo đi trên đường Lạc Dương thì luôn dõi mắt nhìn xa, trông giống như một bức tượng được chạm từ bạch ngọc, người đương thời gọi chàng là “bích nhân” (người ngọc bích). Những khi ấy, mọi người dân thành Lạc Dương đều ùa ra chật cả đường để ngắm chàng trai ngọc bích bé nhỏ này. Nhưng người ngọc này lại có một cái tật là rất thích nói chuyện.

Đương thời, phong cách thịnh hành nhất là ít nói (thanh đàm): tay cầm một cái phất trần, hình thái thong thả và nói năng từ tốn. Lúc mới đầu, “thanh đàm” chủ yếu nói về đạo của Lão Trang, còn có ý vị của triết học, về sau trở nên bừa bãi khắp nơi, ví dụ như đàm luận về tướng mạo và hành vi của người khác (Thời Lưỡng Tấn có nhiều mỹ nam nổi tiếng cũng chính vì nguyên nhân này). Cha mẹ của chàng e ngại cái tật nói nhiều của chàng sẽ làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, hơn nữa, chính trị là một vấn đề rất nhạy cảm, nên tốt nhất là tránh xa, và họ hạn chế việc ăn nói của chàng.

Cuộc loạn Bát Vương đã khiến chính quyền Tây Tấn trở thành một mớ hỗn độn, thế lực của người Hồ thừa cơ xâm nhập vào Trung Nguyên, thiên hạ đại loạn, vì thế mà Vệ Giới hết lòng khuyên cha mẹ di cư về phương Nam. Anh em của chàng không chịu đi, nên về sau đã phải chết trong tay của người Hung Nô. Cả nhà của chàng chạy đến Giang Hạ (nay là Vũ Hán), vợ là Nhạc thị không thể chịu nổi đường xa mệt nhọc nên đã chết. Chinh Nam tướng quân Sơn Giản nhanh chóng đến gả con gái yêu của mình cho Vệ Giới. Vệ Giới lại đưa vợ mới cưới của mình đi về phía Đông, đi đến đất Dự Chương, nơi mà đại tướng quân Vương Đôn trấn thủ (nay là Nam Xương).

Vương Đôn thấy chàng là một nhân tài, lại biết ăn nói nên rất trọng dụng. Nhưng Vệ Giới không hoàn toàn thuận ý, vì chàng cảm thấy người này rất có dã tâm, lâu ngày tất sẽ sinh loạn, không thể dựa dẫm được, bèn tiếp tục di cư và đi về đô thành Kiến Nghiệp của Đông Tấn (nay là Nam Kinh). Quan quân của Kiến Nghiệp do lâu nay đã nghe tiếng đồn về vẻ đẹp của Vệ Giới nên lập tức bổ nhiệm chàng. Các nhân sĩ vùng Giang Đông nghe tin có một đại minh tinh đến bèn đổ xô ra vây lấy chàng để ngắm nhìn, khiến việc di chuyển của chàng trở nên rất khó khăn, suốt cả mấy ngày vẫn không được nghỉ ngơi. Một chàng thiếu niên anh tuấn vốn có thể chất yếu nhược như chàng cuối cùng vì mệt mà bị ốm một trận thập tử nhất sinh, rồi sau thì chết. Chính vì điển cổ này mà sách Thế thuyết tân ngữ mới có câu “nhìn giết Vệ Giới” khán sát Vệ Giới).

Suốt một cuộc đời, Vệ Giới không có chút tiếng tăm nào trên vũ trường chính trị, cũng không có cống hiến gì cho nền văn học nghệ thuật hay kỹ thuật của Trung Quốc, càng không nói chi đến lĩnh vực quân sự. Một người như thế lại được ghi vào trong Tấn thư, điểm này cũng đã cho chúng ta thấy rằng “mỹ nam tử” đã trở thành một hiện tượng văn hoá của đương thời. Sách sử đều nhấn mạnh đến hai điểm khi nhắc về chàng: một là tuấn tú đẹp đẽ, hai là ăn nói khéo léo.


4. Tử Đô


https://khotangtruyenthuyet.blogspot.com/

Kinh Thi từng có câu: “Núi cao có phù tô, vùng trũng có hoa sen. Không gặp được Tử Đô, chỉ gặp kẻ cuồng dại” (Sơn hữu phù tô, thấp hữu hà hoa. Bất kiến Tử Đô, nãi kiến cuồng thả). Câu này có nghĩa là: một người con gái hò hẹn với một chàng đẹp trai nào đó, nhưng cô cứ chờ mãi mà bóng hình chàng trai kia chẳng thấy đâu, chỉ gặp một lão già ngốc nghếch. Trong bài thơ này, “Tử Đô” được dùng làm đại từ thay thế cho chàng đẹp trai, hoặc cũng có thể nói rằng, Tử Đô là đối tượng hẹn hò giả tưởng và là một bạch mã hoàng tử của hầu hết các thiếu nữ (không loại trừ nam thiếu niên) của nước Trịnh. Các thiếu nữ cho rằng, nếu có thể gặp được chàng Tử Đô đẹp nhất nước thì đó là điều vinh hạnh; để có thể gặp được chàng, các cô gái thậm chí đã không tiếc mấy giờ đồng hồ ra đứng đợi trông. Từ đó có thể thấy rằng, khi chưa nhìn thấy Tử Đô mà lại gặp ngay một lão ngốc nghếch thì các cô gái sẽ đau buồn, ai oán và bi thương đến nhường nào.

Sách Mạnh tử lại viết: “Nói đến Tử Đô, trong thiên hạ này không ai không biết đến vẻ đẹp của chàng. Ai không biết đến vẻ đẹp của Tử Đô thì chẳng khác gì là kẻ đui mù” . Ngay đến một Á thánh miệng lúc nào cũng nói đến nhân nghĩa như Mạnh tử cũng bảo như thế thì cũng đủ thấy Tử Đô quả thực là một đại mỹ nam rồi. Vậy thì, một đại mỹ nam Tử Đô gây chấn động thiên hạ này cuối cùng là người như thế nào, làm sao mà chàng lại có một mị lực khiến các cô gái trong thiện hạ phải điên cuồng như vậy?

Tử Đô, người nước Trịnh thời Xuân thu Chiến quốc, tên thực là Công Tôn Yên , Tử Đô là tên chữ. Tử Đô không chỉ có tướng mạo đẹp đẽ mà còn đầy võ nghệ, rất thiện xạ, vì thế mà làm chức Đại phu dưới thời Trịnh Trang Công. Chỉ có điều là, Tử Đô tuy người đẹp đẽ nhưng tính lại ích kỷ nhỏ nhen. Tả truyện, Ẩn công thập nhất niên có ghi chép về câu chuyện: vì tranh xe mà chàng đã bắn chết Kỷ phương đại tướng Dĩnh Khảo Thúc; từ điểm này có thể thấy rằng, Tử Đô vẫn còn thiếu lòng khoan dung và khí khái anh hùng cần phải có của một bậc đại trượng phu.
Tuy còn mắc phải khuyết điểm như vậy, nhưng Tử Đô vẫn là một đại mỹ nam vang danh khắp nơi, dung mạo của chàng không những làm chấn động giới thống trị (đại diện là Trang công), mà còn khiến cho đông đảo dân chúng (đại diện là phụ nữ nước Trịnh) và người đời sau (đại diện là Mạnh tử), họ cũng đều vì điểm này mà liệt Tử Đô vào danh sách của các mỹ nam.


5. Tống Ngọc






Tống Ngọc là một trong hai đại mỹ nam nổi tiếng nhất ngang hàng với Phan An trong lịch sử Trung Quốc, nhưng nói về Tống Ngọc thì có rất nhiều điều mắc míu. Bởi vì, từ trước đến nay chưa có một bộ chính sử hay thậm chí là một bộ dã sử nào nói đến Tống Ngọc đẹp trai như thế nào, duy nhất chỉ có một bài “Đăng Đồ Tử háo sắc phú” do Tống Ngọc viết trong quyển Tả chứng mà thôi. Bài phú này thuật lại rằng có một vị quan đại phu đã nói về Tống Ngọc như sau: “Người thì đẹp như ngọc, nói năng khéo léo, nhưng hiềm một nỗi là bản tính háo sắc”. Tống Ngọc bèn giải thích: Từng có một cô con gái dung nhan mỹ lệ ở nhà phía Đông đã lén leo lên tường nhà để ngắm trộm mình suốt ba năm, nhưng chàng chẳng đoái hoài gì đến cô ta, như thế thì không thể bảo rằng chàng hiếu sắc. Tiếp theo, chàng lại miêu tả rằng Đăng Đồ Tử đã yêu mê mệt người vợ xấu xí của hắn như thế nào, cùng với cô ả sinh ra đến năm mặt con, từ đó đã gán tội danh “tính hiếu sắc” sang Đăng ĐồTử. Thế thường thì người ta đều đặt niềm tin của mình vào người có vẻ ngoài đẹp trai hơn, bèn tin vào lời của Tống Ngọc nói là sự thật, khiến cho cái tên “Đăng Đồ Tử” trở thành đại từ dùng chung cho “phường háo sắc”. Ngoài bài phú này ra, người ta không tìm ra được một dấu tích gì khác có liên quan đến Tống Ngọc.

Tương truyền, Tống Ngọc là đệ tử của Khuất Nguyên. Chàng hoàn toàn không vì dung mạo đẹp đẽ của mình mà đường quan rộng mở, mà ngược lại, chàng rất lận đận trên chốn quan trường. Suốt một đời chàng chưa giữ được một chức quan gì to, tuy rằng chàng có tài về văn chương và rất thạo về âm luật, cũng đã từng được Sở vương cho tiếp kiến, nhưng rốt cuộc cũng chẳng đạt được gì, ngay đến bản kiến nghị cũng chẳng được người dùng. Nhưng chàng không vì thế mà rũ bỏ tất cả, ngược lại, chàng lao mình vào trong sáng tác và đã viết nên nhiều tác phẩm rất hay. Từ thể Tao của Khuất Nguyên, chàng đã sáng tạo nên một thể loại mới, đó là thể Phú , tuy rằng không thể vượt qua cái cũ, nhưng thể loại mới này cũng đã có những đóng góp nhất định. Văn chương của Tống Ngọc rất hoa lệ, khả năng khắc hoạ rất sâu sắc, khiến cho hình tượng “Đăng Đồ Tử” được sáng tạo ra trong tác phẩm “Đăng Đồ Tử háo sắc phú” trở nên rất thành công.

Tương truyền rằng “Đăng Đồ Tử háo sắc phú” là một bài giả mạo, không phải do Tống Ngọc viết ra. Do vậy, nếu quả thực bài phú này là do người khác viết thì vẻ đẹp của Tống Ngọc có lẽ là do người đương thời hoặc giả là người đời sau công nhận. Ngược lại, nếu đây là bài viết thực sự của Tống Ngọc thì vẻ đẹp của chàng có lẽ là sản phẩm của sự cường điệu, và như vậy sẽ khiến cho người ta hoài nghi về tính chân thực của nó. Nhưng bất luận như thế nào thì Tống Ngọc cũng đã đội lên đầu của mình bằng một chiếc mũ cao của một đại mỹ nam, và trên thực tế thì tiếng tăm về vẻ đẹp của chàng cũng đã được lưu truyền thiên cổ.


6. Trâu Kỵ



Thời Chiến quốc, Trâu Kỵ là một người đẹp trai rất nổi tiếng của nước Tề. Thân cao (hơn 8 thước), dung mạo đẹp đẽ. Vẻ đẹp của chàng không chỉ là ở ngoại hình, mà chàng còn là người rất có chiều sâu trong tư tưởng. Nhưng cũng chính là do chàng quá trầm tư nghĩ ngợi mà gặp phải bất hạnh, vì những người thường hay nghĩ ngợi sẽ là người đau khổ hơn so với người bình thường. So với ngoại hình, Trâu Kỵ thích người ta chú ý đến con người bên trong của mình hơn, ví dụ như chàng muốn người ta khen ngợi chàng về tài năng thơ ca, văn chương, cách ăn nói vân vân.
Tương truyền đương thời, Trâu Kỵ luôn mơ mộng rằng sẽ có một cô gái xinh đẹp tuyệt trần đến gánh vác nỗi khổ não thay cho chàng. Mỗi sáng sớm, sau khi thức dậy, mỹ nam nước Tề này bèn đứng trước chiếc gương đồng mà thầm hỏi một cách u uất: Hỡi gương thần gương thần, hãy nói cho ta biết, ai là người đàn ông đẹp nhất nước Tề? Gương thần luôn áy náy mà bảo với chàng: Thật là đáng tiếc, hỡi chủ nhân của tôi, cho đến nay thì người vẫn là người đàn ông đẹp nhất nước Tề. Khi gương thần trả lời xong, gương luôn thấy Trâu Kỵ khóc nức lên một cách rất thương tâm, như mưa tháng ba đang lất phất từng hạt. Cho đến một ngày nọ, gương thần đột nhiên nói với Trâu Kỵ rằng: Hỡi chủ nhân của tôi, cuối cùng thì người không còn là người đàn ông đẹp nhất nước Tề. Nay có một người đàn ông tên là Từ Công (*�公) ở thành phía Bắc, hắn mới là người đàn ông đẹp nhất nơi đây.

Ngày hôm ấy, Trâu Kỵ cảm thấy rất hạnh phúc, nhưng hạnh phúc ấy đến quá đột ngột khiến chàng không tin vào tai mình được. Vì thế nên chàng mới hỏi vợ của mình: Giữa ta và Từ Công ai đẹp hơn? Người vợ đáp: Từ Công sao có thể sánh với chàng được? Thật giống như một quả cà đem sánh với quả anh đào vậy! Trâu Kỵ lại hỏi tiểu thiếp, thiếp trả lời: Từ Công sao có thể sánh với chàng được? Thật giống như một con cun cút đem sánh với con nhạn trên núi vậy! Trâu Kỵ lại hỏi một môn khách, khách đáp: Từ Công sao có thể sánh với chàng được? Thật giống như cỏ đuôi chó đem sánh với cây vân bân vậy! (Vân bân một loại cây có gỗ tốt và đẹp).

Vài ngày sau, Trâu Kỵ trông thấy người đàn ông mà trong mắt mọi người là không thể sánh với mình. Trâu Kỵ suy tư, trầm ngâm phút chốc rồi bắt anh ta đi đến hoàng cung. Trâu Kỵ và Tề Uy vương (齊威王) vừa uống rượu vừa trò chuyện, Trâu Kỵ bèn nói: Đại vương, thần vốn không đẹp bằng Từ Công, nhưng vợ của thần muốn thần mua quả anh đào cho cô ấy; thiếp của thần muốn thần mua thức ăn lạ cho cô ấy; môn khách của thần muốn thần cho hắn ta vài súc gỗ quý để làm nhà, nên tất cả đều bảo Từ Công không đẹp bằng thần. Nhưng thực ra, nếu đem thần ra mà sánh với Từ Công thì thần chẳng khác gì quả cà, con chim cun cút, cỏ đuôi chó vậy, điều này đã chứng minh rằng họ đã che giấu thần. Đại vương, nếu từ việc này mà nói đến đạo trị quốc thì…

Tề Uy vương nghe Trâu bảo thế cũng chìm đắm vào trong suy nghĩ.

Hôm sau, Tề Uy vương triệu Trâu Kỵ vào diện kiến, nói với Trâu Kỵ một cách rất bí mật: “Ái khanh, khanh lại là một người đẹp nhất nước Tề đấy!” Trâu Kỵ không hiểu thế nào, bèn hỏi: “Tại sao thế?” Tề Uy vương cười nói: “Quả nhân đã huỷ dung nhan của tên Từ Công ở thành phía Bắc rồi, bây giờ thì bọn thê thiếp của khanh có khen khanh đẹp trai thì đương nhiên là nói đúng sự thật về khanh rồi!”

Người ta bảo rằng vì chuyện này mà Trâu Kỵ trở nên điên loạn. Tương truyền có người từng gặp chàng, thì thấy chàng đã trở nên ngờ ngệch, chỉ nói đi nói lại một câu: ta chỉ muốn là một người biết suy nghĩ thôi mà!

-----------------------


Hoàng Đế chiến tranh với Xi Vưu






Hoàng Đế , còn gọi là Hiên Viên Hoàng Đế, là một vị vua huyền thoại và anh hùng văn hoá Trung Quốc, được coi là thuỷ tổ của mọi người Hán. Chữ hoàng ở đây hàm nghĩa sắc vàng, là màu biểu trưng cho hành thổ. Hiểu nôm na “Hoàng Đế” là “Vua Vàng”, khác với hoàng trong hoàng đế là danh xưng của các vua Trung Quốc kể từ thời nhà Tần .
Hoàng Đế được coi là một trong Ngũ Đế, theo huyền sử Trung Quốc thì ông trị vì trong khoảng 2698 TCN đến 2599 TCN và là người sáng lập ra nền văn minh Trung Quốc. Theo truyền thuyết, việc ông rút về phía tây tại trận Trác Lộc đánh thủ lĩnh Xi Vưu là cái mốc hình thành người Hán.
Hoàng Đế, tên thật là Công Tôn Hiên Viên, là con của bà Phù Bửu. Thân mẫu ông đã nằm mơ thấy sao Bắc Đẩu rớt vào mình mà thụ thai sinh ra ông. Thưở nhỏ, ông rất thông minh, có tính thần linh, thường khuyên người đồng thời lo làm lành và tu ngũ đức

Chiến tranh với Xi Vưu

Cách đây hơn 4000 năm, ở lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang có nhiều thị tộc và bộ lạc sinh sống. Hoàng Đế là một trong những thủ lĩnh bộ lạc nổi tiếng nhất trong truyền thuyết.
Bộ lạc Thiểu Điển, do Hoàng Đế làm thủ lĩnh, ban đầu sống ở vùng Cơ Thuỷ thuộc tây bắc Trung Quốc, sau dời tới vùng Trác Lộc bắt đầu định cư, phát triển chăn nuôi và trồng trọt.
Viêm Đế (Thần Nông) là thủ lĩnh một bộ lạc khác đồng thời với Hoàng Đế, cư trú tại vùng Khương Thuỷ ở tây bắc Trung Quốc. Theo truyền thuyết Trung Hoa thì Viêm Đế có họ hàng thân tộc với Hoàng Đế.
Còn Xi Vưu là thủ lĩnh bộ tộc Cửu Lê. Họ chế tạo ra các loại vũ khí như đao, kích, cung, nỏ, thường dẫn bộ lạc đi xâm chiếm, cướp phá các bộ lạc khác.
Có lần, Xi Vưu xâm chiếm vùng đất của Viêm Đế. Viêm Đế đem quân chống lại nhưng thất bại. Viêm Đế đành chạy đến Trác Lộc, xin Hoàng Đế giúp đỡ. Hoàng Đế liên kết các bộ lạc, chuẩn bị lương thực, vũ khí, triển khai một trận quyết chiến với Xi Vưu trên cánh đồng Trác Lộc.
Về trận đại chiến này, đã có nhiều truyền thuyết hoang đường, khi quân của Hoàng Đế thừa thắng đuổi theo quân của Xi Vưu, trời bỗng nổi cuồng phong, là do Xi Vưu đã được sự giúp đỡ của thần gió, thần mưa. Hoàng Đế cũng nhờ Thiên Nữ giúp đỡ. Cuối cùng, Xi Vưu bại vong. Những truyền thuyết trên chỉ có tính chất phản ánh sự khốc liệt của cuộc chiến.
Từ đó, Hoàng Đế được nhiều bộ lạc ủng hộ. Nhưng sau đó 2 bộ lạc của Hoàng Đế và Viêm Đế lại nảy ra xung đột, hai bên đánh nhau một trận ở Bản Tuyền, Viêm Đế thất bại. Từ đó Hoàng Đế trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc các vùng Trung Nguyên.
Trong các truyền thuyết cổ đại Trung Quốc, Hoàng Đế rất được tôn sùng. Người đời sau đều cho rằng Hoàng Đế là thuỷ tổ của người Hoa Hạ (tức dân tộc Hán ngày nay) và coi mình là con cháu của Hoàng Đế.

Viêm Đế và Hoàng Đế vốn thân thuộc nên sau này hai bộ lạc lại hoà hợp, nên người Trung Quốc thường tự xưng mình là con cháu Viêm-Hoàng. Để kỉ niệm vị tổ tiên chung đó, người ta xây lăng Hoàng Đế ở Kiều Sơn, phía bắc huyện Hoàng Lăng tỉnh Thiểm Tây.

Đời Thần Nông, con trai cày mà ăn, con gái dệt mà mặc, không dùng hành chính mà dân được được trị, không dấy binh đao mà làm vua thiên hạ. Vua Thần Nông mất rồi thì các bộ tộc nổi lên, mạnh hiếp yếu, đông hiếp ít, nên vua Hiên Viên Hoàng Đế mới bày ra nghĩa vua tôi, trật tự trên dưới, lễ cha con, anh em, và sự phối hợp vợ chồng.

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

Truyền Thuyết 20


Thoth

Truyền thuyết thần Thoth

Thoth, trong tín ngưỡng Ai Cập cổ đại, là vị thần mặt trăng, cai quản về văn bản và kiến thức và là "Vị thần của Thánh thư". Đôi khi người ta nói ông là con trai trưởng của thần mặt trời RA dù rằng theo một truyền thuyết thì ông được phóng ra từ trên đầu của ác thần Seth. Thoth thường được xem là đại quan của Osiris, vị thần của thảo mộc và người chết, hoặc là thư ký cao cấp của thần này. Vì có kiến thức thần bí nên Thoth đã từng phụ giúp đắc lực trong việc mai táng Osiris. Ông còn giúp trông nom Horus trong khi Isis nuôi nấng thần này. Về sau Thoth đã kế vị Horus lên ngôi ở vùng Ả Rập và trị vì đất nước này trong sự thái bình trên 3000 năm. Sau đó ông giữ địa vị thần mặt trăng trên trời.
Theo một chuyện kể thì ông theo lệnh thần Ra soi sáng bầu trời ban đêm. Tại đây, ông bị các quái vật gặm nhấm dần dần nhưng chúng lại phải từ từ nhả ra từng miếng nhỏ. Thần Thoth thường được mô tả dưới dạng một con cò lớn hoặc một con khỉ đột. Người ta nói là ông viết sách pháp thuật, có tên là Sách của thần Thoth đang được chôn trong một ngôi một gần Memphis. Các câu thần chú trong sách được nói là có thể giúp cho người sử dụng có được quyền năng đối với linh. Thoth cũng là thần ghi lại phán quyết của tòa án xét xử người chết dưới âm cung.

Thần Thoth được vẽ như người có cái đầu con cò mỏ quặp. “Thoth Tarot” đã từng được lưu hành ở Ai Cập cổ đại. Theo truyền thuyết, thần Thoth đã nghĩ ra chữ viết và ghi lại tất cả những hiểu biết của các thần. “Thoth Tarot” được chép trên 78 lá vàng mà tác giả là người ở lục địa Atlantis huyền thoại. Về sau, “Thoth Tarot” được chép lại vài ba lần trên giấy chỉ thảo. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn lưu hành, những lá vàng chép sách này bỗng biến mất vô tăm tích. Các bản sao cũng đã bị toà án Giáo hội tiêu huỷ. Chỉ một phần nhỏ từ một trong những bản sao chép đầu tiên còn lại cho tới ngày hôm nay và đang được lưu giữ tại Thư viện Alexandria ở Ai Cập.


The Four Horsemen of the Apocalypse


Bốn kị sĩ Khải huyền trong Kinh Thánh-Họ vốn không hề có tên và chỉ được phân biệt dựa trên màu sắc các con ngựa đi cùng cũng như những tai họa mà họ mang đến. Tuy nhiên, người ta thường gọi các kỵ sĩ là Cái Chết, Chiến Tranh, Bệnh Dịch và Nạn Đói.

Truyền thuyết về tứ kỵ sĩ khải huyền


Chuyện về “bốn kỵ sĩ của ngày tận thế” đến hủy diệt thế giới được viết trong quyển sách cuối cùng của kinh Tân Ước, đó là cuốn Sách Khải Huyền của Thánh Gioan – có nội chủ yếu nói về những lời tiên tri vào ngày phán xét cuối cùng.

Tương truyền rằng trong cánh tay phải của Chúa có ẩn tàng bảy cái thiên ấn. Khi Chúa Jesus mở bốn cái dấu đầu tiên, sẽ có bốn quái thú hình người cưỡi trên bốn con kỵ mã màu trắng, đỏ, đen và xanh xám; tượng trưng cho sự xâm lược, chiến tranh, đói kém và chết chóc.

Sphinx

Truyền thuyết về Sphinx

Nhân sư ( Sphinx) là tượng đầu người, mình sư tử nằm canh ở kim tự tháp (mộ của các pharaon) thời Ai Cập cổ đại. Sang thời Hy Lạp, nhân sư đầu đàn bà thân sư tử, cánh chim thường đựoc dùng trong trang trí gỗ ở thời Hi Lạp hóa và La Mã.

Tượng Sphinx nằm ở sa mạc Ai Cập cách thủ đô Cairo khoảng 8 dặm, được người xưa dùng để canh gác ba kim tự tháp lớn ở Giza. Đó là một quái vật tạc bằng đá, đầu người mình sư tử với những chân có vuốt trải ra phía trước.

Hình tượng chạm trổ sơ sài nhưng đầu lại được tạc một cách rất công phu. Đôi mắt đầy vẻ bí hiểm và có cái nhìn không ai có thể giải thích nổi. Mắt con Sphinx nhìn chằm chằm ra phía sa mạc với cái vẻ kênh kiệu khó hiểu.

Tượng cao hơn 18 mét và trải dài tới 57 mét, mặt có bề ngang 5 mét, tai 1,57 mét, mũi 1,7 mét. Người ta cho rằng tượng Sphinx đã tồn tại ít nhất 5.000 năm nay!

Tại sao lại xây dựng tượng này? Một bằng chứng mà ta có được xuất phát từ việc tìm thấy một am thờ nằm giữa những cái chân của quái vật này. Am thờ nhỏ này có bút tích của hai vị hoàng đế cổ Ai Cập. Hai vị giải thích rằng tượng Sphinx biểu thị một trong những hình dạng của thần Mặt trời Horus. Và hai vị còn nói rằng mục đích làm tượng Sphinx là để xua đuổi tất cả những điều bạo ác, tội lỗi khỏi khu nghĩa địa quanh kim tự tháp.

Ở Ai Cập có nhiều tượng Sphinx, ngoài tượng Sphinx lớn ở Gizah. Đầu tượng biểu thị các vị hoàng đế. Trong các sách thánh của người Ai Cập sphinx có nghĩa là "vua chúa".

Đối với các tôn giáo nguyên thủy ở Ai Cập cũng như ở các nơi khác, nhà vua được coi là sức mạnh và sự khôn ngoan của nhiều con thú bằng cách khoác cái lốt của chúng. Vì vậy người Ai Cập đã chạm các vị thần và các vị hoàng đế của họ nửa người, nửa thú.

Quan niệm về Sphinx đã từ Ai Cập truyền tới các nền văn minh khác, chẳng hạn như Assyria và Hy Lạp. Ở các vùng này, Sphinx thường có thêm cánh. Ở Assyria Sphinx thường là đàn ông, nhưng ở Hy Lạp Sphinx lại có đầu đàn bà.

Trong thần thoại Hi Lạp, Sphinx là con sư tử có cánh với cái đầu của người phụ nữ là con của quái vật Chimenra và Orthus hay con của quái vật Typhon và Echidna. Nó ngồi trên bệ đá trước cổng thành Thebes, đưa ra một câu đố bí hiểm cho những ai muốn vào thành. Đó là câu hỏi về một sinh vật buổi sáng đi bằng 4 chân, buổi trưa đi bằng 2 chân còn đến chiều lại đi bằng 3 chân. Bất kì người nào không trả lời được đều bị nó xé xác ăn thịt. Cuối cùng người anh hùng Oedipus đã giải đáp được câu đố này - đó là con người vì còn nhỏ bò bằng 4 chân, lúc trưởng thành đi bằng 2 chân và về già phải chống gậy đi bằng 3 chân - khiến con nhân sư tức giận mà chết.


Benten

Truyền thuyết về Bentaizen

Benten (Benzaiten) : Nữ thần của may mắn , tình yêu, sự mạch lạc, sự thông thái và nghệ thuật . Benten là hiện thân của geisha và nghệ thuật dân gian . Hình ảnh thường được thể hiện của Benten là cô gái có 8 tay đang cưỡi trên 1 con rồng.

là vị nữ thần duy nhất trong số shichifukujin (Bẩy vị thần may mắn ( Shichi Fukujin )- có nghĩa là 7 điều hạnh phúc), bảo trợ cho văn học, nghệ thuật, khoa học, sắc đẹp và đặc biệt là âm nhạc. Benten vốn là em gái của vua âm phủ trong Phật giáo, nhưng về sau do có sự nhầm lẫn mà người ta gán cho bà những phẩm chất thiện tính và đưa bà vào hệ thống bảy vị phúc thần.

Tương truyền bà đã kết hôn với một con rồng để làm cho nó thuần tính hơn, nên đôi khi bà được thể hiện đang cưỡi trên một con rồng hay rắn biển. Bà cũng gắn liền với biển cả, do đó đền thờ bà thường được đặt trên biển hoặc trên một hòn đảo. Benten được xem là mẫu mực về những tài năng của phụ nữ và luôn xuất hiện với cây đàn Biwa trên tay. Benten còn được cho là vị thần mang lại may mắn trong hôn nhân và là vị thần bảo trợ cho các geisha.


Typhon

Truyền thuyết về Typhon

Trong thần thoại Hy lạp là người con cuối cùng của Gaia, cha là Tartarus, là thần gió. Typhon âm mưu lật đổ ngôi Zeus để trở thành Vua của các vị thần và loài người. Typhon được cho là một loại sinh vật to lớn nhất và hình dạng kỳ lạ nhất từng được biết đến từ trước đến nay, Typhon có hàng trăm đầu rắn khác nhau. Hắn bị hạ bởi Zeus, và bị ông ta lấy Núi Etna đè lên trên.

Pele

Truyền thuyết về Pele

Trong tôn giáo Hawaii, Pele là nữ thần của lửa, sét, khiêu vũ, và núi lửa.

Theo truyền thuyết của Hawaii thì hồi xưa khi núi lửa hoành hành khủng khiếp, giết hại bao nhiêu dân lành , qua bao nhiêu cuộc tế thần đều không kết quả thì có một người con gái tên là Pele mới tự nguyện phát tâm khấn rằng sẽ hy sinh tấm thân nhảy vào miệng núi lửa để làm dịu cơn giận dữ của thần núi lửa , sau khi khấn , cô gái nhảy thẳng vào miệng núi lửa đang sôi sục và một điều kỳ diệu đã xảy ra là núi lửa dịu hẳn xuống , không còn hung dữ như trước , nên thổ dân đã coi Pele như vị nữ thần cứu nhân độ thế , có vẽ lại chân dung thờ cho tới ngày nay.....

Vì quá thương Pele nên lòng sùng kính nàng lên cao độ biến những hóa chất nóng chảy bị kéo ra theo dòng nước sôi sục dưới lòng biển thành những dạng như giọt nước và như những sợi tơ chỉ...họ gọi đó là tóc và những giọt nước mắt của nữ thần Pele....

Còn một số câu truyện khác cho rằng:

truyền thuyết về nữ thần Pele sống trong núi lửa. Đây là một nữ thần rất nóng nảy và độc ác . Pele có thú vui là "kết nạp" rất nhiều "người tình", nhưng mỗi lần "vui thú" xong là bà ta lại dùng dung nham nóng chảy giết chết tất cả. Sau này bà ta thấy cô đơn và tội lỗi nên thường "nổi hứng" khóc vô tội vạ.