Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền Thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền Thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2020

Truyền Thuyết Địa Tạng Vương Bồ Tát


Bồ tát Địa Tạng thường xuất hiện trong văn hóa Phật Giáo phương Đông, Ngài được miêu tả giống với một vị hòa thượng mặc áo cà sa oai nghiêm thanh tú. Ngài đã phát nguyện, kể từ lúc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ cho đến khi Đức Phật Di Lặc Tôn Vương đản sanh, Ngài sẽ ở trong địa ngục hóa độ chúng sinh, nếu địa ngục chưa trống sẽ không thành Phật. Trong văn hóa Nhật Bản, Địa Tạng là vị Phật bảo hộ cho trẻ nhỏ, cũng như hóa độ vong nhi và các thai nhi chết trong bụng mẹ. Địa Tạng Bồ tát được mô tả có vẻ ngoài giống một nhà sư, có một nhúm lông trắng mọc ở trán giữa hai mắt, mặc áo cà sa đỏ, đội mũ tỳ lô quán đảnh, một tay cầm tích trượng 6 vòng biểu hiện cho cứu độ hết 6 đạo luân hồi, một tay cầm linh châu như ý tượng trưng cho trí tuệ sáng suốt, chân đạp hoa sen hoặc cưỡi Đế Thính. Ngài chính là một trong Lục Đại Bồ tát, Địa Tạng, Quan Âm và Thích Ca Mâu Ni được xưng tụng là Ta Bà Tam Thánh. Ngày vía của Bồ tát Địa Tạng là 30 tháng 7 âm lịch.


Truyền Thuyết Địa Tạng Vương Bồ Tát


Vế ý nghĩa cái tên Địa Tạng, "Địa" có nghĩa dày dặn chắc chắn, "Tạng" là chứa đựng, hai chữ nói lên tấm lòng dung chứa hết mọi khổ ải cho chúng sinh. Nếu Quan Âm Bồ tát cứu độ những con người lâm cảnh khổ nạn thì Địa Tạng Bồ tát hóa độ và cứu rỗi chính những người đã tạo ra nhiều ác nghiệp sâu dày. Trong Mật tông của Phật giáo Tây Tạng, Ngài còn có tên là Dữ Nguyện Kim Cương.

Theo Phật giáo Nhật Bản, những linh hồn sau khi nghe Diêm La phán tội phước sẽ đi đầu thai chuyển kiếp ở cầu Sai (Nại Hà). Ở đây, những vong nhi còn lưu luyến vì kiếp đời mình sống chẳng được bao lâu đã tận mạng, chúng cùng nhau nhặt đá xây nên những cổng thành nhỏ mà không chịu đi, Địa Tạng Bồ tát thường đến vỗ về an ủi khuyên chúng từ bỏ tiền kiếp mà đầu thai, sẽ có thể làm lại kiếp người. Ở một phiên bản khác ghê rợn hơn, quanh cầu Nại Hà có mụ phù thủy Datsuba độc ác, mụ cho rằng những vong nhi chết yểu đã không hoàn thành hiếu đạo với cha mẹ nên mụ lột hết áo quần của chúng, bắt chúng mỗi ngày trần truồng lạnh giá mà nhặt đá xây tháp cho mụ. Cứ xây xong tháp thì bọn quỷ dữ lại xô ngã rồi muốn ăn tươi nuốt sống bọn trẻ, lúc này Địa Tạng Bồ tát sẽ đến, ngài cho chúng chui vào áo cà sa mà trú, những đứa chạy chậm thì bám lên tay áo hay tòa sen. Bồ tát ôm lấy bọn trẻ: "Thôi nào đừng sợ, từ bây giờ ta sẽ là cha, là mẹ của các con". Khi bọn quỷ kéo đến, ngài sẽ dùng minh châu chiếu ánh linh quang xua đuổi bọn chúng.

Truyền Thuyết Địa Tạng Vương Bồ Tát

Một truyền thuyết khác của Nhật Bản vào hàng ngàn năm trước ở một ngôi làng tên Anwa, có người phụ nữ có tấm lòng kính Phật, bà luôn ước ao có được một pho tượng Phật để thờ phụng tại nhà nhưng hoàn cảnh quá nghèo khó. Một hôm giặt giũ bên sông thì có pho tượng Địa Tạng Bồ tát bằng gỗ trôi dạt vào bờ và bà đem về thờ cúng trang nghiêm, do chưa có con nên bà luôn mong Bồ tát gia hộ mình sẽ sinh được một đứa con. Về sau bà sinh ra một cậu con trai đáng yêu, không may khi con lên bốn thì bà mắc bệnh qua đời và người cha lấy thêm một người vợ lẻ. Đứa trẻ lớn lên trong sự nhu nhược của cha và bản tính tàn ác của kế mẫu, được mẹ dạy dỗ kính trọng Phật pháp nên nó vẫn lén mẹ ghẻ mà phụng thờ bức tượng Địa Tạng. Một hôm khi người cha đi lên tỉnh, bà mẹ kế đang ngủ trưa, đứa trẻ lén mang một ít cơm nguội dâng cúng lên Địa Tạng Bồ tát và người mẹ của mình. Lòng nhớ mẹ của đứa trẻ mồ côi nên nó bật khóc và bị mẹ ghẻ phát hiện, bà ta quyết lần này nhổ cỏ tận gốc phải giết chết thằng nhãi ranh phiền phức kia. Nghĩ đến đó, bà ta quăng ngay đứa bé vào chảo nước đang sôi. Người cha đi đường mà tâm trạng vô cùng bất an phải quay về, đến đầu làng ông gặp một nhà sư cõng đứa trẻ đang khóc, nhận ra tiếng của con mình ông chạy đến xin lại con trai, nhà sư giải bày: "Ta đã đổi mạng của ta cho đứa trẻ này khi người mẹ kế của nó đang tìm cách giết nó. Ngươi hãy tìm kẻ nào đáng tin cậy để nuôi dưỡng và giáo dục đứa bé này.” Rất mang ơn vị sư, người cha hỏi ngay: "Thưa thầy, thầy đang trụ trì ở đâu vậy ạ?". Vị sư cười nói: "Ta ở gần đền thờ vua Thập Điện" sau đó biến mất trong không trung. Sau khi mang con gửi ở nhà ông bà nội, người cha về tra hỏi bà mẹ kế: "Con trai tôi đâu? Nó đang ở đâu?'', người đàn bà gian xảo diễn trò mèo khóc chuột: "Tôi rất tiếc nhưng do nó dại dột ham chơi đã ngã xuống sông chết đuối, nước cuốn trôi xác rồi!" Người cha mở nắp chảo nước đang sôi thì thấy pho tượng Địa Tạng Bồ tát của vợ ông ngày xưa đang nằm trong đó, giờ thì người cha đã hiểu tại sao nhà sư lại nói rằng ông ấy "lấy mạng đổi mạng" cho con mình và lại tu ở gần Thập điện diêm vương. Chán nản tình đời dối trá, ông quyết xuất gia kề cận phụng thờ Địa Tạng Bồ tát. Ngày nay ở Nhật, Địa Tạng Bồ tát chính là vị thần bảo hộ cho trẻ con.

Truyền Thuyết Địa Tạng Vương Bồ Tát


Các tiền kiếp:

Một kiếp kia lúc chưa đắc quả Bồ tát, Ngài hóa sanh làm con gái của một gia đình Bà la môn nọ. Lúc đó là vào thời giáo độ của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, thánh nữ Bà la môn lại hết lòng cung kính Đức Phật này. Tuy nhiên mẹ cô lại có tâm phỉ báng khinh khi, bà tự ỷ thế cường quyền gieo rắc đau khổ cho kẻ nghèo hèn, bao nhiêu ác nghiệp đã tạo nên khi lâm chung đương nhiên bị đày xuống địa ngục Vô Gián. Nàng con gái thấy mẹ ra đi không an lòng, đem tài sản đi làm việc phước thiện, luôn hướng tâm cúng dường Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại. Một lần, Đức Phật hiển linh nói cho nàng biết rằng hãy về tư gia thiền định và niệm danh hiệu Phật sẽ biết được thân mẫu giờ đang ở đâu. Nàng lễ Phật vừa xong, liền trở về nhà cứ y theo lời Phật dạy, nàng ngồi yên lặng một chỗ, niệm danh hiệu của Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai một ngày một đêm. Thình lình nàng thần mộng đi đến một chỗ bờ biển kia, nước cuồn cuộn sôi trào, ba đào sóng bủa, lại thấy nhiều giống ác thú, cả mình bằng sắt, nhảy nhót bơi chạy trên mặt biển, không biết là bao nhiêu, lại thấy những đàn ông và đàn bà, kể hơn trăm ngàn, lặn xuống trồi lên ở trên ấy, thảy đều bị những thú dữ kia dành giựt bấu xé mà ăn thịt. Quỉ Dạ Xoa thì hình thù khác nhau hoặc có thứ nhiều tay nhiều chân, hoặc có thú nhiều con mắt nhiều đầu, hoặc có thứ nanh bén nhọn như gươm mọc ló ra ngoài miệng, thảy đều áp lại lùa đuổi những bọn tội nhơn đến gần cho thú dữ kia ăn thịt. Nàng hỏi thăm một quỷ vương kia và được giải đáp: "Ở phía Tây có ngọn núi cao ngàn trượng tên là Thiết Vi, bên trong núi ấy có một địa ngục. Người ta chỉ có thể đến đây bằng hai cách, một là nghiệp lực sâu dày bị đày đọa, hai là thần thông phi phàm mới đến được, vị đây chắc là Bồ tát tương lai mới có thể ngang nhiên du hành". Thánh nữ lại hỏi thêm rằng:"Biển này là biển gì, tại sao những người kia lại bị hành hạ đến vậy?", quỷ vương hành lễ rồi đáp: "Những người đã chết đó, lúc sanh tiền lại không có chút gì là điều phước thiện, vì vậy nên cứ theo bổn nghiệp của mình mà chiêu cảm lấy cái khổ báo ở nơi địa ngục tự nhiên trước hết phải đọa tới đây. Ở bên phía Đông biển này, cách chừng mười vạn do tuần lại có một cái biển nữa, sự đày đọa của chúng sanh bị vào đó còn khổ hơn đây đến bội phần. Còn bên mé Đông biển kia, lại có một cái biển khác, sự thảm trạng thống thiết không thể kể xiết! Những hạng người thọ khổ là do bình nhựt ở thế gian tạo những nghiệp ác mà phải cảm lấy sự tội báo như vậy, nên ba cái biển đó đều gọi là: “biển nghiệp”. Chính cái biển này gọi là địa ngục!". Nàng lo lắng sợ hãi cho mẫu thân liền hỏi ngay người hiện đang ở đâu, quỷ vương xin hỏi tên tuổi mẹ của nàng. Thánh nữ nhớ lại những nghiệp ác mẹ đã tạo không khỏi xót xa: "Mẹ của tôi tên là Duyệt Đế Lợi, thuộc dòng Bà la môn", quỷ vương mỉm cười: "Xin đại Bồ tát chớ lo, bà Duyệt Đế Lợi đã được thác sanh lên trời cách đây ba ngày rồi, chúng tôi được nghe đó là nhờ công đức bố thí, phóng sinh, cúng dường của con gái bà, không ngờ là Ngài đây". Quỷ vương chắp tay cung kính mà lui, thánh nữ tỉnh lại liền đến đối trước Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà nguyện: "Nay tôi nguyện cho đến kiếp vị lai nếu có chúng sanh nào tạo tội mà chịu khổ ở nơi Địa ngục, bất luận là kẻ thân thuộc hay người cừu oán, tôi lập ra nhiều pháp môn phương tiện mà cứu độ cho đều được phân giải thoát tất cả”.

Lại ở một kiếp khác, khi Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai đang hóa độ. Có cô gái tên là Quang Mục. Khi mẹ qua đời nàng đã lập đàn trai tăng cung thỉnh chư tăng về cúng dường, thuở đó có vị cao tăng đắc đạo, nàng rất tin tưởng nên xin hỏi mẹ hiện đã thác sanh về chốn nào. Vị đại sư liền hỏi: "Lúc sống mẹ của cô có gieo nhân duyên phước đức hay gây điều tội căn nào không?", Quang Mục băn khoăn: "Bạch thầy, mẹ con không những không làm phước thiện lại có sở thích ăn loài cá trạch, bà thường sai người đi bắt cá về rồi chế biến mà ăn, không biết đã tàn sát bao nhiêu sinh linh nghiệp sát vô số". Vị La Hán kia vừa nghe đã biết, ông khuyên Quang Mục hãy bỏ công chí thành xưng niệm danh hiệu của Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục, và phát tâm đắp vẻ sơn thếp hình tượng của Phật mà thờ. Quang Mục vâng lời y giáo phụng hành, một đêm kia Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục hiện trong mơ báo rằng:"Mẹ ngươi chẳng bao lâu rồi cũng thác sanh vào nhà ngươi, hễ vừa biết sự đói lạnh thì nói ngay, khi đó ngươi sẽ rõ”. Không lâu sau đứa đầy tớ trong nhà sinh ra đứa trẻ, mới ba ngày tuổi đã bật tiếng nói than đói than lạnh. Một hôm kia đứa trẻ chạy đếm ôm Quang Mục mà khóc: "Ta đây vốn thiệt là mẹ con khi trước. Từ lúc vĩnh biệt đến nay, ta bị đọa vào địa ngục, chịu nổi đắng cay, may nhờ phước lực của ngươi, nên ta mới được đầu thai lên đây. Nhưng vì tội báo còn nặng nên ta phải sanh làm thân hèn hạ như thế này. Đã vậy mà lại không thọ, ta chỉ sống được mười ba tuổi mà thôi, rồi lại phải chết vì bị đọa vào ác đạo nữa. Cầu xin...làm ơn cứu giúp!" Quang Mục vẫn còn điều nghi, nàng bảo đứa trẻ có ác nghiệp gì đời trước thì hãy nói ra, đứa bé khóc nấc: "Do ta phàm ăn tục uống thường xuyên giết hại chúng sinh mang đầy sát nghiệp khi chết đọa vào A Tỳ địa ngục chịu muôn cực hình. Nếu không có con cúng dường Phật pháp, ta sẽ còn chịu khổ đến muôn ngàn kiếp!" Nàng ra quỳ trước bàn thờ Đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục mà nguyện rằng: “ Nay tôi vái cùng mười phương Chư Phật, xin từ bi thương xót mà chứng minh cho mấy lời thệ nguyện của tôi ở giữa này. Nếu mẹ tôi đời đời lìa khỏi ba đường dữ cùng khỏi làm người hèn hạ, và đến kiếp nào kiếp nấy cũng khỏi đầu thai làm thân con gái nữa, thì từ đó tôi đối trước tượng Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục đây cho đến trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, hễ thế giới nào có chúng sanh bị các tội khổ ở trong địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh, thì tôi thệ nguyện ra sức cứu vớt cả thảy khỏi sự thống khổ nơi ba đường ấy và chừng người nào người nấy đều đặng thành Phật tất cả, tôi mới chịu chứng bực Chánh Giác”. Trong hư không vang lên tiếng nói của Chư Thiên: "Này Quang Mục, mẹ ngươi kiếp này sau khi đủ 13 năm thọ mạng sẽ viên tận rồi thác sanh làm người Phạm Chí, đầy đủ phước thọ!"

Lại nói đến một kiếp kia Địa Tạng Bồ tát sanh làm người trưởng giả rất cung kính Phật pháp. Đương thời kỳ ấy, có Đức Phật, hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai ra đời. Một bữa kia, ông Trưởng giả tình cờ gặp vị Phật ấy, thân tướng tốt đẹp, ngàn phước trang nghiêm, thiệt là tuyệt thắng trên đời, xưa nay chưa thấy. Ông càng xem lại càng thương và càng kính, làm cho ông sanh lòng hân hạnh bội phần liền hỏi Đức Phật công đức thế nào mà được phần hảo tướng ấy. Ngài liền bảo rằng: “Nếu người muốn được kim thân diệu tướng như Ta đây, thì phải phát tâm tu hành, trải vô lượng kiếp cầu đạo bồ đề và một lòng tinh tấn, mà hóa độ tất cả những loài chúng sanh thọ khổ cho thoát khỏi đường tội báo". Đến đó, trưởng giả liền phát nguyện: "ôi nguyện từ nay cho đến đời vị lai, không biết bao nhiêu kiếp số về sau, nếu có chúng sanh nào ở trong sáu đường, bị thống khổ về sự tội báo, thì tôi dùng đủ phương tiện mà độ cho được giải thoát tất cả, chừng đó tôi mới chứng Phật quả”. Vì trong kiếp làm Trưởng giả nói trên, Đức Địa Tạng có phát lời đại nguyện như vậy, nên từ đấy đến nay, trải đã trăm ngàn vạn ức na do tha, không biết bao nhiêu kiếp số rồi, mà Ngài hãy còn làm một vị Bồ tát.

Lại một kiếp khác Ngài sinh làm đại hoàng tử Kim Kyo Gak của nước Tân La (Cao Ly_Nam Hàn), từ nhỏ tính khí ôn hòa thích đọc sách thánh hiền. Vào năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, sau khi tham khảo hết Tam giáo, Cửu lưu và Bách gia chư tử thì Ngài bèn buông lời cảm thán: “So với Lục kinh của Nho gia, Đạo thuật của Tiên gia, thì lý Đệ nhất Nghĩa đế của nhà Phật là thù thắng hơn hết, rất hợp với chí nguyện của ta.” Sau đó lập chí xuất gia vào lúc 24 tuổi. Ngài xuất phát ở Incheon đi sang Trung Hoa để tu thiền định, theo ngài chỉ có một con bạch khuyển nuôi từ nhỏ. Cuối cùng ngài chọn núi Cửu Hoa (An Huy ngày nay) để thiền 75 năm, hôm kia ngài bị con rắn nhỏ cắn vào ngón chân vẫn an nhiên thiền định. Lát sau có nữ nhân tuyệt đẹp từ vách núi bay ra: "Con đây là Long Nữ, đứa nhỏ trong nhà nghịch ngợm kinh động kim thân, xin khấu đầu sám hối", nàng bái lạy rồi bay mất, từ nơi nàng bay đi chảy ra một dòng suối trong mát nay chính là dòng Long Nữ Tuyền nổi danh thắng cảnh. Con chó trắng đi theo Ngài về sau khi đắc quả cũng trở thành thần thú bên cạnh gọi là Đế Thính (Thế Thính), con chó này có một bên tai ngoắc lên và một bên cụp xuống. Một tai của nó có thể nghe được pháp âm của thập phương chư Phật, tai còn lại nghe được nỗi thống khổ của thập loại chúng sinh.

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

Truyền Thuyết 18


Chewutti - Avater of The Water

Chewutti - Avater of The Water


Là một trong 6 nữ thần tự nhiên. Cô được lấy nguyên mẫu từ nữ thần Ganga là một nữ thần sông được miêu tả có đến 4 cánh tay - trong Ấn độ giáo . Cô cầm một đinh ba làm vũ khí và thường cưỡi một con giao long ( cá sấu ).

Ở thái lan có một ngày lễ gọi là "Loykartong " là ngày mà người dân chúng cảm ơn về nguồn nước mà họ được sử dụng trong sinh hoạt, và xin lỗi về những lỗi lầm khi sử dụng hoang phí nước.Đây cũng là một cách nghi lễ đối với vị thần sông này

Troll

Troll

Troll, người khổng lồ độc ác là nhân vật trong Thần thoại Bắc Âu đuợc mô tả dưới dạng một loài sinh vật đáng sợ. Ban đầu, thần thoại Bắc Âu mô tả nó như một kẻ Khổng lồ, mặc dù sau đó, các tác phẩm hội họa và ký họa thường mô tả nó với kích thước nhỏ hơn nhưng vẫn xếp vào loại những kẻ khổng lồ hiểm ác. giống như quỷ ăn thịt người gọi là ogre của Anh (cũng thường được xếp loại người khổng lồ hiện giờ) – thường sống ở chỗ xa xôi hẻo lánh, giống người ở vùng hoang dã, sống dưới những ngọn đồi, Hang hoặc Núi. Trong đảo Faroe, Orkney và Shetland đã có những chuyện cổ tích, về người khủng lồ gọi là Khủng lồ (trow), được kể trong tiếng Na-Uy vào thời của Người Viking.

Ogre

truyền thuyết ogre

Ogre thuộc loại Người khổng lồ, độc ác và đáng sợ có đặc tính người và Quái vật, đặc trưng trong Thần thoại, chuyện cổ tích dân gian và khoa học giả tưởng. Ogre thường được miêu tả trong các chuyện cổ tích thần tiên như là quái nhân ăn thịt người, vvà đã xuất hiện trong nhiều tác phẩm kinh điển của văn học. Trong Nghệ thuật, ogre thường được miêu tả với cái đầu khổng lồ, nhiều tóc và râu ria, tính tham ăn, và cơ thể khoẻ như trâu. Thuật ngữ orge (tương tự như Ông kẹ trong tiếng lóng Việt Nam) thường được sử dụng trong một ý nghĩa ẩn dụ về con người kinh tởm hay bóc lột, đối xử tàn bạo hoặc ăn tươi nuốt sống nạn nhân của họ.

Set - god of chaos

truyền thuyết Set

Set (Sutekh, Seteh hay Seth), là vị thần đầu sói của Ai Cập. Set là người đã từng xé rách con mắt thần của Horus. Nhưng nhờ có Hathor phục hồi lại bằng phép thuật. Set đã từng sát hại, Osiris, anh của Set, chồng của Isis. Nhờ có Isis phục hồi lại mạng sống. Ông được gọi là chúa tể của sự hỗn loạn. Cha ông là Geb, còn mẹ ông là Nut, nữ thần trời. Anh em của Set là Osiris và nữ thần Isis. Vợ của Set là Nephthys.

Chính Set là người đã viết ra những Văn bản kim tự tháp, những Văn bản trên quan tài. Trong thần thoại Ai Cập, Seth thường được gọi là Ác Thần Seth.

Isis

Truyền thuyết Isis


Isis là người con thứ hai của thần Geb và thần Nut. Người là em gái của Osiris, và là chị của Seth. Nhưng trong một số văn bản lại nói Isis là em gái của Seth. Có con trai là Horus. Sau này, khi chồng bị sát hại bởi Seth, nàng đã kể lại với con trai. Nhưng nàng là người có lòng vị tha, nàng đã tha thứ cho Seth. Còn có chuyện nói rằng khi Isis tha cho Seth lần hai, Horus đã chặt đầu Isis và thân thể nàng biến thành tượng đá không đầu.

Thiên Sứ

Thiên Sứ


Thiên sứ, còn gọi là thiên thần, là những thực thể ở trên cao, được tìm thấy trong nhiều tôn giáo. Bổn phận của thiên sứ là phục vụ Thiên Chúa. Theo niềm tin của ba tôn giáo chính thuộc độc thần giáo, các thiên sứ thường thi hành nhiệm vụ của các sứ giả.

thiên sứ thường xuất hiện trong hình dạng con người, và người ta thường không nhận ra thiên sứ .

Thiên sứ thường được tin là có quyền năng và đáng sợ, khôn ngoan và thấu suốt mọi điều trên đất, sáng suốt trong phán đoán, thánh khiết mặc dù là không phải không thể sa ngã.

Truyền Thuyết 16


Wadjet


Wadjet - có biểu tượng là con rắn trên vương miện pharaoh. Thần Wadjet là nữ thần rắn hổ mang của vùng hạ Ai Cập, nữ thần này thường được thể hiện dưới dạng một con rắn hổ mang đang chực tấn công, dù rằng đôi khi thần này hiện ra dưới dạng một sư tử cái. Trong truyện thần thoại kể lại việc Isis bí mật nuôi đứa con mình là Horus thì Wadjet là cô vú nuôi của vị thần nhỏ ấy. Nhưng người ta tin rằng Wadjet và Nekhbet là các thần bảo vệ cho Pharaoh.

Truyền thuyết về Wadjet

Supay


Trong thần thoại Aymara và Inca, Supay (Zupay) được coi là thần chết hay người cai trị của Pacha UCA, địa ngục Incan. Giống như Hades trong thần thoại hy lạp ngoài là vua địa phủ ông ta còn cai quản luôn nguồn tài nguyên trong lòng đất có lẽ vì vậy Supay được những người thợ mỏ, khai khoáng xưa thờ phụng. Không như cách nhìn trong Kito giáo coi Supay như mầm mống của tội ác và quỷ dữ . Những người dân thuộc địa Châu Mỹ lại có cách nhìn khác về Supay. Họ kính sợ , thờ phụng và van xin sự che trở từ Supay.

Truyền thuyết về Supay


Ở một số vùng của Peru, người dân Quechuan tại Mamacha Candicha có một điệu vũ truyền thống về Supay được gọi là "The flame virgin" . Lễ hội nhầy múa này kéo dài đến hai tuần .

Tuy nhiên, các du khách vẫn có cơ hội thưởng thức điệu nhảy của Supay này ngay trong dịp không phải lễ hội của người Mamacha Candicha.

Một truyền thuyết khác:

Hai anh em song sinh Castor và Pollux là con của Zeus, chúa tể trong tất cả mười hai vị thần trên đỉnh Olympus, và nữ hoàng của thành Sparta. Đó là hai đứa trẻ trung hậu, rất dũng cảm và cùng nhau nổi danh khi lập được nhiều chiến công hiển hách trong cuộc hành trình của nhóm thủy thủ tàu Argo vĩ đại, và trong biết bao cuộc phiêu lưu khác. Bất kể khi nào, hai anh em luôn luôn tìm cách giúp đỡ lẫn nhau. Trong một trận đánh, Castor bị tử trận sau một vết thương rất đau đớn. Trong nỗi buồn vô hạn, Pollux đã cố gắng tự sát theo anh. Nhưng khác với Castor, Pollux được thừa hưởng dòng máu của Zeus vua cha, nên là một chiến binh bất tử. Khi không còn cách nào nữa, cậu bé thốt lên lời khóc “Hãy để con chết thay Castor, thưa cha!”. Zeus thương tiếc vô cùng, đã đồng ý cho họ thay phiên nhau mỗi người được sống một ngày và đưa họ cùng bay lên bầu trời. Hai anh em hóa thành chòm sao Gemini, mỗi một ngày một người sẽ được sống trên thiên đàng và là ngôi sao được tỏa sáng, ngôi sao còn lại không sáng vì người kia lúc ấy đang ở trần gian. Cũng kể từ đó chòm sao Song Sinh được coi là biểu tượng cho tình bạn, tình anh em.

Saxra


Saxra là một sinh vật thiêng liêng từ thần thoại Andean và Aymara (phía bắc của Chile và Bolivia) . Saxra là linh hồn ma quỷ hành động theo lệnh của Supay. Chúng xuất hiện vào lúc hoàng hồn và thực sự hoạt động mạnh mẽ vào lúc nửa đêm. Chúng chiếm giữ linh hồn và gây ra những bệnh tật hay tai ương đối với con người .

Truyền thuyết về Saxra


Có một số Saxra sinh sống trong các ngôi mộ hay nghĩa trang, và chúng được gọi là "the spirits of the bones". (linh hồn của xương )

Chúng xuất hiện trong hình dạng của gió, lốc xoáy. 

Khi một Saxra xuất hiện ở giữa mùa đông, nó thường mang đến những cơn mưa đá , sương giá và sự chết chóc.

Thứ Bảy, 22 tháng 10, 2011

Truyền Thuyết 12


Lưu Bình _ Dương Lễ

Lưu Bình _ Dương Lễ


Lưu Bình và Dương Lễ là hai người bạn tâm giao từ thuở thiếu thời.Dương Lễ nhà nghèo, còn Lưu Bình giàu có, đem bạn về nhà ở, ăn cùng mâm, học cùng đèn, tình bạn hữu rất là tương đắc. Dương Lễ biết phận mình nhà nghèo nên ráng học, còn Lưu Bình cậy mình có của nên lười biếng, ham chơi. Ðến khoa thi, Dương Lễ thi đậu được bổ ra làm quan. Lưu Bình thi rớt nên sinh ra chán nản, ăn chơi hơn trước, thi mãi không đậu, của tiền khánh tận. Sực nhớ đến bạn ngày xưa là Dương Lễ nên tìm đến để nhờ giúp đỡ. Dương Lễ lánh mặt không tiếp, dọn cơm hẩm với dĩa cà thâm để đãi, có vẻ khinh bạc. Lưu Bình tức giận tủi nhục ra về, dọc đường ghé lại quán trọ, làm quen với một thiếu phụ tên là Châu Long đang kén chồng.

Nghe Lưu Bình thi hỏng luôn hai khóa, Châu Long kiếm lời an ủi, khuyên nên bền chí, nàng sẽ lo liệu mọi việc để cho Lưu Bình yên lòng ăn học, giao hẹn khi nào thi đỗ mới tính việc vợ chồng. Trai tài gái sắc cùng sống chung một nhà, có khi Lưu Bình không nén được lòng, muốn cùng ân ái, Châu Long cương quyết từ chối, nhắc lại lời giao hẹn lúc mới gặp nhau. Nhờ sự khuyến khích giúp đỡ của Châu Long nên Lưu Bình ráng sức học hành tiến bộ, đến khoa thi năm đó thi đỗ cao. Trở về nhà thì không thấy Châu Long đâu nữa. Hỏi thăm khắp nơi không ai biết nàng ở đâu, Lưu Bình cũng không hiểu vì sao Châu Long lại biến mất vào lúc mình đã hiển đạt, nên đâm ra lo lắng, đau khổ, nhớ thương. Lưu Bình tìm đến thăm Dương Lễ để mắng mỏ mấy câu cho hả giận. Dương Lễ vui vẻ đón tiếp. Lưu Bình toan mở miệng mỉa mai trách móc, thì bỗng thấy Châu Long từ trong bước ra chào. Dương Lễ mới giới thiệu nàng là thiếp thứ ba của mình. Lưu Bình hiểu ngay rằng trước đây Dương Lễ sở dĩ bạc đãi là để khích khí mình, sợ mình không có nơi nương tựa mà bê trễ việc học hành, rồi sai vợ lẽ là Châu Long thay mặt đi giúp đỡ mình ăn học cho thành tài. Từ đó Lưu Bình và Dương Lễ sống với nhau thân tình, khắng khít hơn xưa. Việc ra mặt khích khí bạn, rồi ngầm giúp đỡ cho trọn tình thủy chung như thế, cũng thường thấy ở phương Ðông chúng ta

Lạc Long Quân - Âu Cơ



Lạc Long Quân (khoảng thế kỷ 29 TCN) tên húy là Sùng Lãm , con trai của Kinh Dương Vương Lộc Tục và con gái Động Đình Quân tên là Thần Long.

Lạc Long Quân - Âu Cơ

Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, trăm trứng ấy nở thành trăm người con trai. Một ngày, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: "Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được". Hai người bèn chia con mà ở riêng. Năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biển, chia nhau mà thống trị những xứ đó, đó là thủy tổ của các nhóm Bách Việt. Người con cả trong số những người con theo mẹ lên Phong Châu được tôn làm vua gọi là Hùng Vương lập ra nước Văn Lang.


Theo truyền thuyết Việt Nam, Âu Cơ là tổ mẫu của người Việt. Tương truyền, Âu Cơ là con gái của vua Đế Lai. Trong khi đi tuần thú phương Nam, ông đã để Âu Cơ lại trên một cái động. Khi Lạc Long Quân đi đến đây thì thấy nàng xinh đẹp nên đã đem lòng yêu mến và đem về làm vợ. Hai vợ chồng Lạc Long Quân và Âu Cơ đã sống với nhau và sinh ra 100 người con trai. Sau đó vì thủy thổ tương khắc nên hai người phải chia con ra 50 con theo cha về biển, 50 con theo mẹ về núi và chia nhau cai quản các vùng. Đây là tổ tiên của người Bách Việt.

Ngưu Lang - Chúc Nữ


Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng Thượng đế, vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bễ việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.

Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình nên ra ơn cho hai người mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu.

Ngưu Lang - Chúc Nữ


Thời bấy giờ sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được vời lên trời để xây cầu. Vì mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai, họ cãi nhau chí chóe nên đến kỳ hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy đầu sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều. Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh. Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân thì lấy làm gớm ghiếc, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu thì phải nhổ sạch lông đầu. Từ đó, cứ tới tháng bảy thì loài quạ lông thì xơ xác, đầu thì rụng hết lông.


Có dị bản khác cho rằng tên gọi của Ô kiều là cầu Ô Thước do chim Ô (quạ) và chim Thước (chim Khách) kết cánh tạo ra.

Truyền Thuyết 10


Nữ Oa

Nữ Oa là một nữ thần Trung Quốc, một trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Bà là em gái đồng thời cũng là vợ của Phục Hy. Theo thần thoại, Nữ Oa và Phục Hy là hai anh em, hiện ra khi núi Côn Lôn thành hình. Họ đã dâng đồ tế để xin đấng tạo hóa cho phép họ là hai anh em được lấy nhau thành chồng vợ. Sự phối hợp này được chấp nhận khi khói đốt từ lễ vật vẫn giữ nguyên dạng quện vào nhau.

Nữ Oa trong thần thoại của người Trung Hoa là vị nữ thần tạo ra con người, rồi sau cùng với vua Phục Hy dạy dân chúng.



Ta có thể thấy, trong các thần thoại nơi khác cũng đều có những vị thần tạo ra con người. Trong thần thoại Hy Lạp, Prô-mê-thêu là vị thần sáng tạo ra con người. Trong thần thoại của người Ai Cập, con người được ra đời do được thần gọi. Trong thần thoại Do Thái, Giô-hô-va sáng tạo ra con người.

Còn trong thần thoại Trung Hoa, Nữ Oa đã tạo ra con người như thế nào ? Theo thần thoại, bà là một vị nữ thần đầu người thân thuồng luồng, chỉ khi tiếp xúc với con người bà mới biến phần thân dưới thành thân người thôi. Truyện kể, sau khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, thế giới trần gian đã có sông nước, cây cỏ và muôn thú, mưa nắng thuận hòa. Nữ Oa tuy thấy nơi đây có chất của sự sống, như dường như sự sống còn chưa hoạt bát, bà cảm thấy cần phải tạo ra một loài động vật mới.



Nữ Oa xem qua các loài động vật khác, bà nhận thấy chúng đều thiếu một thứ, đó chính là sự thông minh, tư duy, sáng tạo. Vì vậy, bà quyết định tạo ra một loài động vật có bộ óc cực kỳ thông minh, và động vật đó sẽ trở thành loài độc tôn trong các loại động vật.

Nữ Oa suy nghĩ không biết phải tạo loại động vật đó có thân hình thế nào. Suy nghĩ mãi, bà biến thân mình trở thành người có tứ chi, rồi bay lên mây du ngoạn khắp nơi. Bỗng đến dòng sông Hoàng Hà rộng lớn, bà nhìn xuống mặt nước, lúc đó, nước trong xanh, mặt nước tựa như gương, in bóng hình của Nữ Oa. Bà nhìn thấy hình của mình dưới nước, bất giác nghĩ ra cách để tạo ra loài động vật mới. Bà tạo ra động vật mới có thân thể thế nào vậy ? Trả lời, bà tạo ra loại động vật này mô phỏng theo thân hình của bà. Nhưng bà lấy gì để tạo loại động vật đó ? Trả lời, bà dùng một thứ rất bình thường thôi, đó là…bùn. Bà lấy bùn dưới sông tạo ra con người. Nhờ khéo tay, bà nặn ra loài động vật rất hoàn chỉnh, chúng đứng thẳng bằng hai chân, có tay phối hợp với chân, thân thể trần trụi, bà còn chú ý tạo cho chúng một bộ óc thông minh hơn tất cả các loài nào khác. Rồi bà thổi hơi tiên vào, những động vật đất sét đó bỗng hóa thành động vật thật. Bà vui mừng, đặt cho chúng tên gọi là con người. Làm nhiều quá nên bà mệt mỏi, bà lấy sợi dây nhúng vào đất sét lỏng kéo lết cho những vệt đất tạo thành người. Những người do Nữ Oa nặn ra đẹp đẽ thành những kẻ quí phái, còn những giọt đất sét kéo lết trở thành những người thường dân. Con người trong thần thoại Trung Hoa đã hình thành như vậy đó.

Nhưng bà không thể cứ mãi mãi nặn hình con người như thế này, cần phải ban cho họ khả năng sinh sản để họ tự phát triển giống nòi. Thế là bà tạo những tượng đất sét cho thân thể khỏe, thổi dương khí vào những tượng đó, những bức tượng đó trở thành đàn ông. Bà thổi âm khí vào những bức tượng trông yếu mềm hơn, thành đàn bà. Nữ Oa còn ban cho hai giới tính đó bộ phận sinh dục để sinh sản. Bà còn nghĩ cách để con người phân bố nhiều rải khắp nơi trên thế giới, liền dây ngoáy bùn dưới sông, cho bắn tung tóe lên khắp nơi trên mặt đất, tạo thành những lớp người phân bố khắp nơi.

Sau đó, bà dạy dân chúng cách lấy nhau, hôn phối để sinh sản, phát triển nòi giống.

Truyền thuyết kể rằng, sau khi đã tạo ra con người, công việc của Nữ Oa xem như đã dứt. Nhưng không ngờ, tiếp sau đó, một tai họa đã giáng xuống đầu con người. Ở trên thiên cung, thần Cộng Công làm phản, đem quân thiên ma đánh thiên giới. Thần Chúc Dung bèn đem quân ra đánh, cuối cùng đã dẹp được loạn tặc. Cộng Công bị thua đau, không muốn trở về mà chẳng làm nên gì, hắn bèn dùng đầu húc gãy cây trụ chống trời. Trụ trời bị gãy sụp, lập tức làm cho thiên địa hỗn độn. Ở dương gian cũng bị tai họa, trên bầu trời xuất hiện lỗ đen lớn, gây họa cho dương trần. Nhìn thấy cảnh nước sôi lửa bỏng, Nữ Oa thương tâm, không nỡ nhìn nhân dân lâm vào cảnh cực khổ, bà bèn quyết tâm vá lại bầu trời.

Nữ Oa bèn bay khắp nơi, tìm đá ngũ sắc để vá trời. Sau khi đã tìm đủ, bà dùng lau sậy đốt với đá tạo lớp keo, rồi ra sức lấp dán, vá bầu trời lại. Chẳng bao lâu, bầu trời đã trở lại bình thường. Nhân dân không còn bị khổ sở nữa.


Sau đó, để giúp dân chúng được vui, quên đi nỗi khiếp sợ đối với tai họa vừa rồi, Nữ Oa dùng tre trúc làm một loại nhạc cụ gọi là sáo, để thổi nhạc, bà còn chế tạo cho dân nhiều loại nhạc cụ khác.

Nữ Oa thấy dân chúng không có lễ nghĩa gì, loạn luân với nhau, hôn phối bậy bạ, bà bèn đặt ra lễ về hôn nhân, dạy cho dân.

Nữ Oa được người đời sau ghi nhớ, thường được tôn là “thần sinh sản”, “thần tình yêu”, “thần hôn nhân”, người ta còn lập đền thờ bà. Và đến ngày nay, người ta vẫn truyền tụng câu chuyện cổ “Nữ Oa đội đá vá trời”, bà rất được tôn sùng trong tín ngưỡng dân gian của dân tộc Trung Hoa, đặc biệt là dân tộc Hán.

Phục Hy


Phục Hy , khoảng năm 2800 trước Công Nguyên, là người đầu tiên trong ba vị vua huyền thoại của Trung Quốc cổ. Ông là một anh hùng văn hóa Trung Hoa, được cho là người phát minh ra chữ viết, nghề đánh bắt cá, và bẫy thú. Tuy nhiên, một nhân vật huyền thoại khác là Thương Hiệt , cũng được coi là người phát minh ra chữ viết.

Theo truyền thuyết Trung Hoa, ông sinh ra tại Thành Kỷ ( nay có lẽ là Thiên Thủy, Cam Túc) sau dời tới Trần Thương . Đóng đô tại đất Trần Uyển Khâu (nay là Hoài Dương, Hà Nam).

Kinh Dịch được cho là do ông đọc Hà Đồ (bản đồ sông Hoàng Hà ???). Theo truyền thuyết, một cách sắp xếp của Bát quái (八卦) của Kinh Dịch đã hiện lên trước ông một cách thần bí. Cách sắp xếp này có trước biên soạn Kinh Dịch trong thời nhà Chu. Phục Hy được cho là đã phát hiện cấu trúc Bát quái từ các dấu trên lưng một con long mã (có sách viết là một con rùa) nổi tên từ dưới sông Lạc Hà, một sông nhánh của Hoàng Hà. Phát kiến này còn được cho là nguồn gốc của thư pháp.

Sách Bạch hổ thông nghĩa của Ban Cố (32 – 92), thời đầu của nhà Hậu Hán, đã viết về tầm quan trọng của Phục Hy như sau:

“ Thời đầu, còn chưa có đạo đức hay trật tự xã hội. Người chỉ biết đến mẹ, không biết cha. Khi đói, người ta tìm thức ăn, khi thỏa mãn, người ta vứt đồ còn lại. Họ ăn thịt cả lông, uống máu, và che thân bằng da thú và vỏ cây. Rồi Phục Hy đến, nhìn lên ngắm trời, nhìn xuống ngắm đất. Ông hợp chồng với vợ, sắp đặt ngũ hành, và đề ra luật lệ cho con người. Ông đề ra bát quái, để thu tóm sự thống trị thiên hạ. "

Phục Hy dạy dân nấu ăn, dùng lưới đánh cá, và săn bắn bằng vũ khí sắt. Ông thể chế hóa hôn nhân và thực hiện buổi tế trời đầu tiên. Một bia đá, niên đại khoảng năm 160, vẽ hình Phục Hy với Nữ Oa - người vừa là vợ vừa là chị em gái của ông.

Cùng với Thần Nông và Hoàng Đế, Phục Hy còn được cho là người phát minh ra đàn cổ cầm.

3 NỮ THẦN SỐ PHẬN MOIRAE

NỮ THẦN SỐ PHẬN MOIRAE

ATROPOS

Là chị cả trong 3 nữ thần số phận, là người nắm giữ tương lai của cả con người và thần linh, nhiệm vụ của bà ta là cắt những sợi tơ tượng trưng cho cuộc sống của một người, khi cắt đứt sợi tơ đồng nghĩa với việc lấy đi mạng sống của một người.

LAHKESIS

Là người thứ hai trong 3 chị em, nắm quyền quyết định hiện tại của mọi sinh linh, nhiệm vụ của cô ta là kéo sợi tơ sinh mệnh của mọi người để quyết định cuộc đời hiện tại cho người đó.

CLOTHO

Là em út trong 3 nữ thần số phận, Clotho là người nắm giữ quá khứ của vạn vật, nhiệm vụ chính của bà ta là cuốn những sợi tơ sinh mệnh vào một cái guồng quay xa khổng lồ tượng trưng ncho tất cả quá khứ của mọi sinh linh trên đất cũng như trời.

Hestia

truyền thuyết Hestia

Trong thần thoại Hy Lạp, nữ thần Hestia còn có tên VESTA là một trong mười hai vị thần trên đỉnh Olympus. Hestia là con của hai vị thần Rhea và Cronus thuộc dòng dõi Titan, và là chị cả của thế hệ các vị thần thứ nhất trên đỉnh Olympus. Nữ thần là người mà nữ thần Rhea sinh ra đầu tiên và cũng là người mà thần Cronus nôn ra cuối cùng.

Nữ thần Hestia là vị thần của bếp lửa, sự quây quần của mọi thành viên trong gia đình, sức khỏe gia đình và nội trợ..., nhưng truớc kia là nữ thần của đạo đức, sự tôn trọng, tốt bụng, ngoan đạo và thiện chí.

Trên đỉnh Olympus Zeus chán nản công việc nên gọi Prometheus và Epimetheus đến tạo ra thêm nhiều loài vật và con nguời để tạo sự vui vẻ và khí thế cho các vị thần. Prometheus nặn người xong thì Epimetheus đã trao tất cả các món quà cho loài vật rồi. Không biết kiếm thêm quà ở đâu, Prometheus lên trời xin Zeus lửa của thần linh (lửa dùng để đun máu bất tử của thần). Zeus không đồng ý, Prometheus cứ năn nỉ nên Zeus phải bàn với các vị thần. Các thần đều không có ý kiến, Hestia liền đứng dậy tạo ra chút bọt biển đun cùng với chút lửa, làm cho ngọn lửa không còn hung tàn nóng nảy như truớc nữa. Cảm kích truớc sự thông minh và tài giỏi, Zeus giao cho Hestia trông coi lửa thần, còn đích thân Zeus đưa cho Prometheus ngọn lửa nhỏ nhắn.

Bà được rất nhiều thần cầu hôn nhưng đều không chấp nhận. Mãi sau bà vẫn còn là một trinh nữ.Bà là một nữ thần tài giỏi, khéo léo, thân thiện lại thông minh và xinh đẹp nên đuợc các vị thần và người dân tin tưởng và yêu quý. Bà luôn biết cách giúp đỡ, cải thiện cũng như sửa chữa khuyết điểm của mọi người theo một cách rất nhẹ nhàng và ôn tồn, mang tính giáo dục nhưng không tỏ ra phẫn nộ, giận dữ hay quá nhân hóa vấn đề, khi được mọi người góp ý bà lắng nghe, khi được cầu xin, bà cố giúp hết mình. Bà không cam chịu, không khuất phục với nhũng điều không hay, có hại cho cả ngượi dân và thần linh. Biểu tượng của bà là bếp lửa, chum đồng, chum vàng và ánh nắng, ánh sáng của thiên nhiên.

Truyền thuyết 8


Chimera


Chimera

Chimera là con của quái vật Typhon và Echidna và có họ hàng với chó 3 đầu Cerberus và quái vật Hydra.

Theo miêu tả, Chimera là quái vật có phần trước của loài sư tử, phần sau của loài bò sát và đuôi là một con rắn. Ngoài ra, trên lưng nó còn mọc ra một cái đầu dê và đầu rồng. Chimera có khả năng thở ra lửa. Chimera là một quái vật đáng sợ, vì phải nuôi ba miệng ăn nên nó ăn thịt bất kì người nào nó gặp.

Cuối cùng, Chimera đã bị anh hùng Bellerophon tiêu diệt với sự giúp đỡ của Pegasus theo lệnh của vua xứ Lycia. Nhờ đôi cánh của Pegasus, Bellerophon thoát được những đốm lửa từ miệng con quái vật và tiêu diệt nó bằng những mũi tên bằng chì. Bellerophon đã bắn những mũi tên vào miệng con quái vật, dứơi sức nóng của ngọn lửa, chì tan ra và đốt cháy ruột gan của nó.

Hydra

Hydra


Theo thần thoại thì Hydra là một con rồng có 7 hoặc 9 đầu. Khi chém đứt đầu nó thì từ chỗ bị đứt liền mọc ra 2 cái đầu mới. Một trong 12 chiến công của Hercules là tiêu diệt con rồng này. Anh chặt đầu con quái vật rồi người cháu của anh lấy đuốc đốt vào vết chém khiến cho đầu nó không mọc lại được. Sau khi hạ được Hydra, Hercules nhúng những mũi tên của mình vào máu của Hydra, những mũi tên này khi được tẩm máu con quái vật sẽ trở nên cực độc - thậm chí là giết chết được các vị thần bất tử. Sau này Hercules còn dùng mũi tên này để đe dọa thần Apollo và thần Poseidon.

Centaur


Centaur

Nhân mã là một sinh vật trong thần thoại Hy Lạp có nửa thân trên của người và toàn bộ phần dưới của ngựa. Trong thần thoại Hy Lạp, nhân mã cùng tồn tại với con người, các anh hùng và các thần nhưng sống tại vùng núi của Thessalía. Theo thần thoại Hy Lạp, một vị vua tên là Ixion dám tán tỉnh Hera, vợ thần Zeus. Thần Zeus tức giận bèn lừa Ixion bằng cách tạo ra một cụm mây giống hình dạng Hera - đây là thần Nephele. Ixion lấy Nephele, sinh ra một quái vật tên là Centaurus. Centaurus cùng với những con ngựa trên vùng núi Thessalía sinh ra dòng giống nhân mã. Cũng có nguồn cho rằng Centaurus là con của thần Apollo và tiên nữ Stilbe.

Nhân mã là những sinh vật cộc cằn, thô lỗ và có ác cảm với con người. Tuy nhiên, có một nhân mã tên là Cheiron tử tế, đoàng hoàng và có trí tuệ. Cheiron không phải là con cháu của Nephele như các nhân mã khác và là bạn của các anh hùng Peleus và Heracles. Peleus đã đưa con trai của mình là anh hùng Achilles cho Cheiron nuôi dưỡng. Cheiron chết vì mũi tên độc của Heracles do hiểu lầm. Khi ông chết, được đặt cùng những chòm sao trên trời.

Phoenix

Truyền thuyết nói rằng, trong ngày cuối cùng của vòng đời dài 5 thế kỷ, Phượng hoàng sẽ tự thiêu mình trong một ngọn lửa dữ dội rực rỡ. 500 năm 1 lần, loài chim bất tử này thu mình vào quầng lửa phát sinh từ trong chính trái tim của nó và thiêu rụi thân xác cũ, để rồi từ đống tro tàn, nó lại hồi sinh trong ánh hào quang lộng lẫy và lấy lại nguyên vẹn sự tươi trẻ của buổi ban đầu.

Phoenix


Phượng hoàng với bộ lông rạng ngời lấp lánh, đang tận hưởng ngày đầu tiên của cuộc sống mới sau khi vừa trải qua 1 cái chết tráng lệ. Dang rộng đôi cánh vĩnh cửu, thần điểu hướng về thế giới của những vì sao bất tử. Giờ thì bạn đã biết vì sao Phượng hoàng đc xem là biểu tượng của sự hồi sinh, trường tồn và bất diệt.

Lilith




Những câu chuyện về xác chết thèm khát máu thời xưa gần như giống nhau ở mọi nơi trên thế giới. Ma cà rồng tựa như linh hồn gọi là Lilu được đề cập tới trong khoa nghiên cứu ma quỷ Babylon, và kẻ khát máu Akhkharu trong huyền thoại Sume thậm chỉ còn sớm hơn cả. Người ta nói những con quỷ cái đó đi lang thang hàng giờ trong bóng tối, săn tìm và giết những đứa trẻ mới sinh cũng như phụ nữ có mang. Một trong những con quỷ đó, tên là Lilitu, đã được làm phỏng theo ở khoa nghiên cứu ma quỷ Do Thái tựa như Lilith. Lilitu/Lilith thỉnh thoảng còn gọi là mẹ của muôn loài ma cà rồng.

Dracula

Dracula

Câu chuyện bắt đầu khi Jonathan Harker, một cố vấn pháp luật người Anh, đi tàu và xe ngựa từ Anh đến toà lâu đài cũ nát và hẻo lánh của Bá tước Dracula (nằm trên núi Carpathian, tại biên giới giữa Transylvania và Moldavia). Mục đích chuyến đi của anh ta là để tư vấn về pháp luật cho Dracula trong giao dịch bất động sản với giám đốc của anh, ông Peter Hawkin, ở Exeter, Anh. Ban đầu Harker bị Dracula dụ dỗ bằng cách cư xử lịch thiệp, sau đó, anh sớm phát hiện ra rằng chính mình đang bị cầm tù trong lâu đài. Anh ta cũng bắt đầu thấy những khía cạnh bất ổn trong cuộc sống của Dracula về đêm. Một đêm, trong khi đang tìm lối thoát ra khỏi lâu đài, Harker rơi vào tay của 3 nữ ma cà rồng - những người sống cùng Dracula, và bị quyến rũ. Cuối cùng, anh ta được Bá tước cứu, tuy nhiên, việc này chỉ nhằm giữ cho Harker sống để giúp đỡ ông ta trong vấn đề luật pháp, giúp ông ta tìm hiểu về nước Anh và London. Harker đã rất khó khăn để sống sót thoát khỏi lâu đài.

Không lâu sau đó, một con tàu của Nga, đã thả neo ở Varna, lượn quanh bờ biển Whitby, Anh, trong một cơn bão lớn. Tất cả thuỷ thủ trên tàu đều mất tích và có thể đều đã chết, chỉ tìm thấy một thi thể bị trói vào cột buồm - thi thể của thuyền trưởng. Nhật kí của thuyền trưởng kể lại những sự kiện kì dị đã xảy ra trong hành trình của con tàu. Những sự kiện này chính là nguyên nhân mất tích của toàn bộ thuỷ thủ

Truyền Thuyết 7


1. Helen và chiến tranh thành Troya

Chuyện bắt đầu bằng tiệc cưới của vua Hy Lạp Peleus và nữ thần biển Thetis. Tất cả các thần được mời tới dự tiệc, trừ ra Eris (Thần Bất hòa, Xung đột, Lừa dối, Già nua, Buồn phiền), một nữ thần có tính nóng nảy, thường gây ra những tranh cãi giữa các thần. Tức giận, Eris bèn thả một quả táo giữa bàn tiệc, có khắc chữ: "Cho người đẹp nhất!" Ba nữ thần Athena, Aphrodite và Hera tranh nhau quả táo. Người có bổn phận phải phán quyết ai được quyền giữ quả táo là Paris, hoàng tử thành Troia. Cuối cùng Paris đã chọn Aphrodite, vì Aphrodite hứa sẽ ban cho Paris một người phụ nữ đẹp nhất thế giới. Một thời gian sau đó, Paris tới viếng thành Sparta, được vua Sparta là Menelaus trọng đãi, và đã gặp Helen, vợ của Menelaus, một người quả có sắc đẹp tuyệt vời. Được nữ thần Aphrodite giúp đỡ, Paris đã chiếm được trái tim của Helen, và khi Paris rời Sparta, Helen đã bỏ Menelaus trốn theo Paris.


 Helen và chiến tranh thành Troy


Paris ( cũng gọi là Alexandros, là con trai của vua Priam của Troia, xuất hiện trong một số huyền thoại Hy Lạp. Paris có lẽ được biết nhiều nhất là trong vụ chàng lén lút quan hệ với Helen, hoàng hậu Sparta, và chính điều này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc Chiến tranh thành Troy. Cuối cuộc chiến, chàng đã làm Achilles trọng thương ở gót chân bằng một mũi tên.

Paris đã lãnh đạo quân lính thành Troia chiến đấu ngoan cường với vua Mycenae Agamemnon. Vì yêu mến sắc đẹp của Helen. Paris đã cướp nàng từ tay của em trai Agamemnon là Menelaus. Với âm mưu chiếm thành Troia, Agamemnon đã lấy cớ rửa nhục cho em đã đem 50 ngàn quân Hy Lạp bao vây thành. Với tấm lòng yêu nước và không muốn máu của người dân vô tội chảy vì mình, Paris đã dũng cảm khiêu chiến cùng em trai Agamemnon nhưng vì thiếu kinh nghiệm chiến đấu, hắn đã bại trận. May mắn thay Pandaros đã bắn cho Menelaus bị thương. Từ thất bại đó Paris đã ngày đêm luyện tập tài bắn cung của mình. Điều đó đã giúp chàng trả thù cho người anh trai khi bị Achilles giết. Cuối cùng, chàng bị Philoctet bắn chết.


2. Achilles

Achilles

Achilles là con của Thetis, nữ thần biển, với vua Hy Lạp Peleus, có mẹ thì bất tử nhưng bố là người trần, vì thế Achilles cũng sẽ như bố, không sống mãi mãi được.

Khi Achilles được sinh ra đã được tiên tri là chàng sẽ chết trong chiến trận. Để giúp sự trường tồn của con, Thetis đã dốc ngược người cậu bé, hai tay giữ bằng gót chân, rồi nhúng cả người cậu vào nước sông Styx, vậy cả người Achilles là mình đồng da sắt, chỉ có gân nơi gót chân là yếu vì không được nhúng nước. Peleus thấy cảnh đó tưởng vợ mình giết con bèn giật lại Achilles từ tay vợ. Trong lúc giằng co, xương ống chân của chàng bị gãy. Thetis tức giận bỏ về thủy cung và không gặp lại chồng nữa. Peleus đưa con trai cho nhân mã Cheiron nhờ ông nuôi dưỡng. Cheiron thay xương ống chân người khổng lồ cho chàng để chàng trở thành người chạy nhanh nhất thế giới, thay gan sư tử, tim gấu cho chàng dũng cảm và không biết sợ gì.

Cuộc chiến thành Troia nổ ra. Có lời tiên tri quân Hy Lạp sẽ không chiếm được thành Troia nếu không có Achilles. Do đó Agamemnon, sai Odysseus tìm Achilles. Nữ thần Thetis biết cuộc chiến nổ ra nên giấu con trai lên một quốc đảo và bắt chàng giả làm thị nữ. Odysseus nghĩ ra cách để tìm ra chàng. Odysseus đem binh khí và son phấn đến đây bán. Các thị nữ đều vây quanh mua son phấn nhưng có một người cứ xăm xoi các thứ vũ khí. Odysseus biết ngay là Achilles bèn mời chàng tham gia cuộc chiến. Achilles vui vẻ nhận lời. Thetis biết không cản được con nên đưa cho con cây giáo thần của các thần tặng bà trong lễ cưới. Achilles tham gia cuộc chiến. Chàng là chiến binh vĩ đại nhất của Hy Lạp trong trận chiến. Nhưng do mâu thuẫn với Agamemnon quanh việc giành một nữ tù binh mà Achilles rời bỏ cuộc chiến. Thetis bèn cầu xin thần Zeus trừng phạt Hy Lạp vì đã làm nhục con trai bà. Zeus nhận lời. Khi quân Troia sắp đánh đuổi được quân Hi Lạp về nước thì bạn thân của chàng là Patroclus bị Hector giết chết. Achilles tức giận quay lại trận chiến trả thù cho bạn, chàng được mẹ ban cho chiếc khiên thần của thần Lửa và nhờ sự giúp sức của thần Athena chàng đâm chết Hector trước mặt cha của Hector, vua Priam, rồi lôi xác Hector. Vua Priam cầu xin Achilles cho ông xin lại xác con trai. Achilles cảm động đồng ý.

Sau đó Achilles tiếp tục lập nhiều chiến công cho quân Hy Lạp như giết 7 người con của vua Priam, giết nữ hoàng Amazon Penthesilea. Nhưng cuối cùng do chàng có thái độ nhục mạ thần Apollo nên bị thần hướng mũi tên của Paris vào gót chân, nơi duy nhất trên cơ thể chàng có thể bị tổn thương. Achilles gục xuống chết. Từ dó thành ngữ "gót chân Achilles" ra đời. Quân Hy Lạp làm lễ tang cho chàng một cách trọng thể và khi chiếm được thành Troia, họ đem hiến tế con gái của Hector cho chàng. Còn Paris, người đã giết chàng cũng bị tử trận bằng mũi tên của Philoctetes. Vậy là thù của Achilles đã được trả.

3. Odysseus

Odysseus

Odysseus là chiến binh mạnh nhất trong chiến tranh thành trojan.

Câu chuyện được kể từ thời điểm Odysseus sau mười năm rời Troia vẫn chưa thể đặt chân lên quê hương và đang bị nữ thần Calypso cầm giữ. Các thần cầu xin Zeus cho Odysseus được sum họp với gia đình. Zeus đồng ý. Trong khi đó, tại quê nhà, Penelope, vợ của Odysseus, phải đối mặt với nhiều người quyền quý trong vùng đến cầu hôn. Telemachus, con trai Odysseus phải đương đầu với chúng để bảo vệ gia đình. Tuân lệnh Zeus, nữ thần Calypso buộc phải để Odysseus rời đảo. Sau vài ngày, gặp bão lớn, chiếc bè bị đánh tan tác, Odysseus may mắn dạt vào xứ sở của vua Alkinoos. Tại đây, Odysseus kể lại cuộc hành trình phiêu lưu mạo hiểm trong suốt 10 năm qua các miền đất lạ cho nhà vua. Được Alkinoos giúp đỡ, Odysseus trở về quê hương sau 20 năm xa cách nơi chàng phải đối mặt với hiểm nguy mới là bọn cầu hôn xảo quyệt, hung hãn đang rắp tâm chiếm đoạt tài sản gia đình. Odysseus cùng con trai và gia nhân trung thành lập mưu trừng trị bọn chúng. Cuộc sống mới bắt đầu trên xứ sở Ithaca.


4. Minotaur

Minotaur

Minotaur là một quái vật nửa người nửa bò trong thần thoại Hi Lạp. Mọi chuyện bắt đầu khi Minos muốn làm vua xứ Crete nên ông cầu xin thần biển Poseidon. Poseidon đã cho ông một con bò trắng đẹp tuyệt trần để ông chứng tỏ lòng thành của mình. Nhưng mê mẩn trước vẻ đẹp của con bò, Minos đã đem một con bò giả để thế. Tức giận, thần Poseidon đã trừng phạt Minos bằng cách hóa phép cho hoàng hậu của Minos, Pasiphaë, yêu con bò đó. Hoàng hậu đã ra lệnh kiến trúc sư Daedalus làm một con bò cái bằng gỗ cho bà chui vào để giao phối với con bò đó và kết quả là sự ra đời của Minotaur.

Minotaur đã gieo rắc kinh hoàng cho toàn đảo Crete nên vua Minos ra lệnh cho Daedalus làm một một mê cung để nhốt nó lại. Mỗi năm, ông đem 7 người con trai và 7 người con gái từ Athena vào cho Minotaur ăn thịt.

Minotaur đã bị tiêu diệt bởi anh hùng Theseus sau khi chàng nghe việc làm tàn ác của vua Minos. Anh đã giết được Minotaur nhờ sự giúp đỡ của Ariadne, con gái vua Minos. Nhờ cuộn chỉ của cô đưa mà anh đã tìm đường thoát được khỏi mê cung.


5. Tứ Linh


Tứ Linh


Tứ linh gồm Long, Lân, Quy, Phụng được dân gian bắt nguồn từ bốn linh thần gồm Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ và Chu Tước. Chúng được người xưa tạo ra từ bốn chòm sao cùng tên ở bốn phương trời. Chúng mang bên mình bốn nguyên tố tạo thành trời đất theo quan niệm của người xưa (lửa, nước, đất và gió). Và việc chọn nơi để làm thành kinh đô phải hội tụ yếu tố hòa hợp giữa các nguyên tố ấy

Chu Tước

Chu Tước thời cổ còn gọi là Chu Điểu là linh vật thiêng liêng có tượng là hình con chim sẻ có màu đỏ là màu của hành Hỏa ở phương Nam, do đó tương ứng với mùa hạ.


Chu Tước


Phượng hoàng nguyên thủy là các con chim trong thần thoại của người dân khu vực Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa, ngự trị trên tất cả các loài chim khác. Trước đây, con trống được gọi là Phượng còn con mái được gọi là Hoàng, nhưng ngày nay thì sự phân biệt đực, cái đã gần như không còn và Phượng cùng Hoàng đã được trộn lẫn vào nhau thành một thực thể giống cái, gọi là phượng hoàng, để cho nó có thể ghép cặp với long (rồng), là con vật mang ý nghĩa của giống đực.

Phượng hoàng có ý nghĩa tích cực. Nó là biểu tượng của đức hạnh và vẻ duyên dáng, thanh nhã. Phượng hoàng cũng biểu thị cho sự hòa hợp âm dương. Theo truyền thuyết, nó xuất hiện trong thời kỳ hòa bình và thịnh vượng nhưng không có khi thời kỳ tăm tối sắp đến.

Tại Trung Hoa thời cổ đại, có thể tìm thấy hình ảnh của phượng hoàng trong các trang trí của các đám cưới hay của hoàng tộc, cùng với rồng. Điều này là do người Trung Quốc coi rồng và phượng (hoàng) là biểu tượng cho quan hệ hạnh phúc giữa chồng và vợ, một kiểu ẩn dụ khác của âm và dương.

Thanh Long

Thanh Long hay Thương Long là một trong Tứ tượng của Thiên văn học Trung Quốc, và cũng là một khái niệm rộng trong phong thủy, âm dương, triết học.


Thanh Long


Thanh Long là linh vật thiêng liêng bậc nhất trong Tứ tượng, thời cổ đại gọi là Thương Long, có tượng là hình rồng , có màu xanh màu của hành Mộc ở phương Đông, do đó tương ứng với mùa xuân

Huyền Vũ

Huyền Vũ là linh vật thiêng liêng có tượng là hình con rắn quấn quanh con rùa, có màu đen là màu của hành Thủy ở phương Bắc, do đó tương ứng với mùa đông.


Huyền Vũ

Hình dạng khởi thủy của Huyền Vũ là con "vũ" màu đen, với Vũ là một linh vật kết hợp của rắn và rùa. Đây là linh vật rất cổ của Trung Hoa. Trong truyền thuyết về tổ của người Trung Quốc, Phục Hi là Tổ phụ, Nữ Oa là Tổ mẫu, thì Phục Hi có hình rắn, Nữ Oa có hình rùa. Sự kết hợp giữa rắn và rùa cho thấy một totem cổ đại từ xa xưa, tượng trưng cho sự Trường Tồn và Sức Mạnh

Bạch Hổ

Bạch Hổ

Bạch Hổ là linh vật thiêng liêng có tượng là hình con hổ , có màu trắng là màu của hành Kim ở phương Tây, do đó tương ứng với mùa thu.

6. Hồ ly tinh

Trong truyền thuyết Trung Quốc, hồ ly tinh là tên gọi của cáo thành tinh. Trong các loài vật, thì loài cáo là loài có thể nói là thông minh nhất sau con người. Theo truyền thuyết, chúng có thể tu hành luyện đạo; tu một trăm năm thì 3 cái đuôi sẽ mọc ra và được gọi là "Yêu Hồ", tu luyện đến 1000 năm thì chuyển sang loài Lục vĩ ma hồ (Cáo ma 6 đuôi), và cứ như vậy; khi đến được cảnh giới là 9 đuôi (Cửu vĩ thiên hồ) thì thế gian đích thị vô thượng cảnh giới; không ai rõ đích xác phải bao năm mới đạt được đến cảnh giới. Mỗi chiếc đuôi là một mạng của chúng. Muốn giết chết một con Hồ ly thì phải chặt hết đuôi của chúng trước.


Hồ ly tinh

Tất cả các Hồ ly thường là cáo cái và không có khả năng thụ thai và sinh đẻ với mọi loại đàn ông. Các Hồ ly con sinh ra được là do Hồ ly mẹ đã uống thuốc tiên ngàn năm. Hồ ly rất sợ số 7 nhưng chúng lại rất ưa số 8. Hồ ly cái khi hoá thành người thường vô cùng xinh đẹp, thông minh, có sức quyến rũ kì lạ. Các Hồ ly cái thường sử dụng ưu điểm đó để hớp hồn đàn ông và sau đó sẽ tìm cách để hút máu của họ cho đến chết, thậm chí có khi còn ăn thịt họ nữa.


Hồ ly tinh


Hồ ly vốn là cáo nên chúng cũng có nhiều đặc tính giống cáo, đó là chúng rất thích ăn thịt gà. Tuy nhiên màu lông của Hồ ly thì khác hẳn so với cáo thường. Tuỳ theo số năm tu luyện mà chúng đổi màu theo đó. Tương truyền, lông của Cửu vĩ hồ thường có màu đỏ tươi như máu. Hồ ly thường sống trong các hang động lạnh vì chúng ưa lạnh. Mỗi khi ra khỏi hang động chúng đều thay đổi hình dạng. Chỉ khi chết chúng mới trở lại y nguyên hình dạng của một con cáo. Các lão Hồ ly (Hồ ly già, thường là đã sống được khoảng ngàn năm tuổi) có khả năng tiên đoán rất chính xác. Hồ ly cũng có tổ chức bầy đàn. Thủ lĩnh tối cao nhất của Hồ ly thường được gọi là "Hồ cung chủ". Chức vị đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường là truyền cho đứa con mà "Hồ cung chủ" đó yêu thương nhất hoặc tài giỏi nhất.

Có tương truyền rằng Đắc Kỷ, mỹ thời Trụ Vương là một "Hồ cung chủ" của Hồ ly thời đó.

truyen thuyet 4



Medusa

Medusa

Trong thần thoại Hy Lạp, Medusa là một con quỷ trong ba chị em quỷ có tên chung là Gorgone. Trong số ba chị em lũ quỷ này thì Medusa là con quỷ hung dữ nhất và cũng là con quỷ trẻ nhất, có thể đánh chết được, còn hai con kia thì bất tử. Chúng là con gái của Phorkix, cháu của Pôngtôx và Kêtô, chắt của Ôkêanôx...

Theo truyền thuyết thì trước kia Medusa là một nữ thần bất tử rất xinh đẹp, có mái tóc bồng bềnh cực kì quyến rũ. Vì thế Medusa đã tự mãn cho rằng mình còn đẹp hơn nữ thần Athena. Chưa hết, Medusa còn xúc phạm Athena hơn nữa khi nàng lén lút hẹn hò với Poseidon trong đền thờ của nữ thần. Athena tức giận trừng phạt Medusa, biến nàng thành nữ quỷ trông dị hợm hơn hai chị mình gấp bội và mất đặc ân bất tử. Đầu của Medusa là một đàn rắn độc quấn quanh như một vành khăn. Những con rắn này lúc nào cũng ngóc đầu lên tua tủa, nhe nanh há miệng, rãi rớt ròng ròng, sẵn sàng cắn mổ vào bất cứ ai động đến chủ nó. Tay của Medusa làm bằng đồng, móng sắc hơn dao. Và Medusa lại có đôi cánh bằng vàng để có thể bay lượn trên không, tiến thoái, lên xuống nhẹ nhàng khi giao chiến. Nhưng điều đáng sợ nhất là đôi mắt nảy lửa của Medusa, hễ ai nhìn vào đó là biến thành đá. Vì thế mà chẳng ai dám bén mảng đến gần chúng. Nhưng cuối cùng, người anh hùng Perseus, con của thần Dớt vĩ đại hạ được Medusa, lập được một chiến công lớn, mở đầu cho sự nghiệp anh hùng của mình.

Sau khi bị chém đầu, từ máu của Medusa xuất hiện thần mã có cánh Pegasus bay thẳng lên bầu trời. Và thần thoại Hy Lạp lại mở thêm những trang mới về những nhân vật thần kì này.

Moses

Moses

Moses là con của một phụ nữ Hebrew (Do Thái). Khi nhận biết đứa bé sơ sinh là con trai, bà tìm cách cứu con mình khỏi bị giết theo một chiếu chỉ của Pharaoh ra lệnh tàn sát tất cả bé trai thuộc dân tộc Do Thái nô lệ ngay khi chúng vừa chào đời. Cuối cùng, cậu bé Moses được nhận nuôi để trở nên một thành viên của hoàng gia Ai Cập. Sau khi ra tay giết chết một quản nô Ai Cập để cứu một người Hebrew, Moses bị buộc phải chạy trốn, rồi trở thành mục tử. Về sau ông được Thiên Chúa kêu gọi trở về Ai Cập với sứ mạng giải phóng dân tộc mình khỏi ách nô lệ, dẫn dắt họ băng qua Hồng Hải, tiến vào hoang mạc và, vì lòng vô tín của dân Israel, ông cùng với họ lưu lạc trong đó suốt 40 năm. Dù sống thọ đến 120 tuổi, Moses không được vào Đất Hứa nhưng chết trong hoang mạc.


Valkyrie

Valkyrie


Valkyrie là tên gọi của những tiểu nữ thần phục vụ vị thần tối cao Odin mà đứng đầu là Brynhildr. Trong văn học Bắc Âu cổ, Valkyrie còn được dùng để gọi những người phụ nữ trinh tiết xinh đẹp đã chết.

những Valkyrie được miêu tả là những người trinh nữ xinh đẹp với làn da trắng và mái tóc vàng óng. Khi ra chiến trường, họ mặc áo giáp đỏ, đội mũ vàng, cầm khiên giáo sáng loáng và cưỡi trên những con ngựa thần lông trắng có cánh. Mỗi lần đi, từ những con ngựa ấy rơi ra những hạt nước gọi là sương mai, tỏa ra những ánh sáng cầu vồng gọi là cực quang hay Bắc quang vì thường xuất hiện trên bầu trời ở khu vực Bắc Âu. Đôi khi, họ còn được gọi là những "Thiếu nữ Thiên nga" do bộ áo giáp được làm từ lông thiên nga cho phép họ có thể tự do bay lượn.

Khi xuống trần gian Midgard, các Valkyrie hóa thân thành những con thiên nga, tìm những ngọn suối đẹp để tắm.


Leonidas

Leonidas

Vị vua của thành bang Sparta ở Hy Lạp.

Ở Saprta xưa có tục lệ giết hài nhi ốm yếu hay dị tật từ lúc chúng mới sinh, chỉ giữ lại những đứa trẻ khỏe mạnh nhất, Leonidas là một trong số trẻ em may mắn đó. Năm 7 tuổi, cậu bé bị tách khỏi người mẹ thân yêu để trưởng thành trong sự khổ luyện khắc nghiệt. Leonidas được dạy rằng không được nhân từ, không được khoan nhượng với kẻ thù, và chết trên chiến trường chính là vinh dự lớn lao nhất mà cậu nhận được.

Cuối cùng, khi đã trưởng thành, Leonidas trải qua thử thách cuối cùng trong cánh rừng mùa đông với con sói dữ. Cậu phải chọn lựa: Hoặc là sống sót quay về, trở thành vua của Sparta hoặc không là gì cả. Nhờ mưu trí cùng với lòng can đảm, Leonidas đã chiến thắng thử thách và cai trị thành bang Sparta trong suốt 30 năm dài.

Amaterasu

Amaterasu

Amaterasu , Amaterasu-ōmikami là vị thần mặt trời trong thần thoại Nhật Bản, và có lẽ là vị thần Shinto quan trọng nhất. Bà được sinh ra từ mắt trái của Izanagi khi ông đang tẩy uế trong một dòng sông và tiếp tục trở thành chủ nhân của Cao Thiên Nguyên (Takamagahara).

Bà cũng được cho là thủy tổ trực tiếp của Hoàng gia Nhật Bản và Thiên hoàng, những người tự coi mình là hậu duệ của thần linh.

Jeanne d'Arc

Jeanne d'Arc


Jeanne d'Arc (tiếng Việt: Gian Đa, 6 tháng 1 năm 1412 – 30 tháng 5 năm 1431) là một nữ anh hùng người Pháp trong cuộc Chiến tranh Trăm năm giữa Pháp và Anh. Ngày 16 tháng 5 năm 1920, Jeanne d'Arc được Giáo hoàng Biển Đức XV chính thức phong thánh.

Sinh ra trong một gia đình nông dân ở phía đông nước Pháp, cô chỉ huy quân Pháp giành được một số chiến thắng quan trọng trong cuộc Chiến tranh trăm năm. Cô cho biết mình được thiên khải dẫn dắt giúp giải phóng nước Pháp đánh bại quân Anh, và như vậy gián tiếp đưa Charles VII lên ngôi. Cô bị người Anh bắt giữ, bị tòa án giáo hội xét xử, bị kết tội là phù thủy và bị hỏa thiêu khi chỉ 19 tuổi. Sự nghiệp của cô như vậy chỉ gói gọn trong hai năm cuối đời, một năm chiến đấu và một năm bị cầm tù. Hai mươi bốn năm sau, Giáo hoàng cho tra xét lại vụ án, và tuyên bố cô vô tội, rồi phong cô là một người tử vì đạo. Cô được ban phúc lành năm 1909, rồi đến năm 1920 được phong thánh.

Jeanne chứng thực là cô nhận được thiên khải từ Chúa muốn cô giải phóng quê hương mình từ ách thống trị của người Anh trong cuộc Chiến tranh trăm năm. Vua Charles VII của Pháp, khi đó còn chưa lên ngôi, gửi cô cùng một đoàn quân đến đánh giải vây cho thành Orléans. Cô trở nên nổi bật sau khi vượt qua được thái độ coi thường của các chỉ huy dày dặn kinh nghiệm, và phá vây chỉ trong vòng chín ngày. Một loạt chiến thắng chóng vánh khác mở đường cho việc Charles VII đăng quang tại Reims.

Jeanne d'Arc tiếp tục là một hình tượng quan trọng trong nền văn minh phương Tây. Kể từ thời Napoléon cho tới thời hiện đại, các nhà chính trị Pháp thuộc tất cả các nhóm chính kiến tiếp tục gợi đến hình ảnh cô. Trong số các nhà văn và nhà soạn nhạc viết các tác phẩm về cô có thể kể đến Shakespeare, Voltaire, Schiller, Verdi, Tchaikovsky, Twain, và Shaw. Hình tượng cô tiếp tục được sử dụng trong phim ảnh, truyền thông, ca nhạc, múa hát và trò chơi điện tử.