Hiển thị các bài đăng có nhãn Hy Lạp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hy Lạp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2020

Khởi đầu của vạn vật trong Hy Lạp

Hy Lạp luôn là một trong nhưng chiếc nôi của nền văn minh nhân loại, văn hoá, văn học, triết học, tất cả đều lưu dấu ít nhiều trong những kiến trúc, những sự vật thường ngày của chúng ta. Hy Lạp còn là nơi có những câu truyện thần thoại hấp dẫn và đời thường nhất…
Đó là một khoảng không gian vô tận, không có một thứ gì tồn tại… rồi bỗng nhiên, những năng lượng sơ khai của vũ trụ hội tụ lại và trở thành thực thể đầu tiên: Chaos.


Chaos là vị thần đầu tiên, sơ khai nhất trong thần thoại của người Hy Lạp. Chaos lúc đó chưa tồn tại một ý chí, hay nhân cách như các vị thần sau này vì trong bản thân Chaos chỉ có hỗn mang. Nhưng chính trong hỗn mang, trật tự và những khái niệm khác mới tồn tại. Sau này, khi các titan hay các vị thần trẻ trị, thậm chí khi mọi nền văn minh có đi đến hồi kết thì Chaos vẫn sẽ tồn tại. Chaos tồn tại như một vực thẳm đáng sợ, khai sinh ra các vị thần nhưng đồng thời cũng hấp thu những gì xấu số lọt vào (Zeus đã từng treo Hera lơ lửng trên vực Chaos, doạ rằng sẽ cắt xích cho rơi thẳng vào mà tan biến trong hư vô)
Sơ khai, chỉ có mình Chaos, sau đó, những vị thần còn lại được sinh ra từ Chaos...



Sau khi có Chaos thì Chronos xuất hiện, ông là thực thể đầu tiên, cổ thần đại diện cho thời gian. Thời gian ban đầu chạy một cách bất quy tắc, không thể dự đoán, nhưng sau đó, khi nữ thần Ananke xuất hiện. Bà là cổ thần của quy luật, của sự bắt buộc, bà kết hôn với Chronos, hai vợ chồng có một cung điện riêng của mình, nằm ngoài dòng thời gian… Từ đó thời gian chảy thành một dòng nhất định, luôn luôn vận hành, không ngừng nghỉ, tất cả những sự biến đều chỉ như một gợn nhỏ trên dòng chảy thời gian.
Vậy là Chaos sinh ra đại diện cho không gian, cho sự sâu thẳm của vũ trụ, cho sự sơ khai, còn vợ chồng Chronos và Ananke đại diện cho thời gian, làm cho vạn vật vận hành, thiết đặt một điểm mốc cho vạn vật.
Chaos tượng trưng cho không gian và không bao giờ có một cơ thể hữu hình, còn hai vợ chồng Chronos được khắc hoạ rất rõ. Chronos có đôi cánh sau lưng, tay cầm lưỡi hãi, tay cầm một chiếc đồng hồ cát, lưỡi hái đó kiểm soát thời gian, là vật tượng trưng cho sức mạnh. Ananke thì ngồi trên một chiếc ngai, cầm quyền trượng, dưới chiếc ngai đó là những vị nữ thần Mệnh (Morai – Fates), số mệnh cũng phải đầu hàng trước những quy luật, trước sự bắt buộc.

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2020

Quái Vật Hy Lạp



1. Echidna

Truyền thuyết về Echidna



Tạo hóa sinh ra vạn vật đều có đôi có cặp. Ác thần Typhon cũng không phải ngoại lệ. Typhon khủng khiếp cỡ nào thì ắt cũng phải có một mụ khủng khiếp không kém cho đôi lứa xứng đôi. Kẻ đó là Echidna, mụ quái vật nửa người nửa rắn.

Về nguồn gốc của Echidna vẫn còn nhiều tranh cãi, có người nói Echidna là con của nữ hải thần Ceto (con gái của Gaia và hải thần Pontus con trai bà), có người lại nói mụ cũng là một người con của Gaia và Tartarus giống như chồng mụ. Nhưng có một điều chắc chắn, Echidna là vợ của Typhon và cuộc hôn nhân này đã tạo ra những quái vật đáng sợ nhất trong thần thoại Hy Lạp. Phải kể đến trong số đó những cái tên như: chó hai đầu Orthus, chó ngao ba đầu Cerberus, Hydra, sư tử Nemean, đại bàng Caucasian, Chimera, rồng Ladon, rồng Colchian, lợn rừng Crommyonian và Sphinx.


Sau khi lật đổ Zeus bất thành, Typhon bị giam cầm dưới núi lửa Etna, nên duyên với Echidna và sinh ra bầy con quái vật. Echidna và lũ con của mụ được Zeus tha cho bởi ông muốn dùng những con quái vật của Echidna làm thử thách cho các vị anh hùng. Mụ sống lẩn khuất trong một hang động, tránh xa các vị thần và người phàm, nhưng cũng sẵn sàng ăn thịt mọi con người và sinh vật sống bén mảng đến gần.

Trong dân gian, Echidna được coi là hiện thân của bệnh dịch, sự thối nát, suy đồi và những gì căn bã xấu xa nhất. Có người nói rằng mụ bất tử, ngày nay có khi vẫn còn ở đó; có người lại kể Echidna đã bị hạ sát bởi mũi tên của thần Apollo, hoặc Argos Panoptes kẻ tay sai của Hera.

2. Typhon

Truyền thuyết về Typhon


Typhon là một quái thú trong thần thoại Hy Lạp, xứng đáng xếp vào hàng những con quái hùng mạnh nhất trong các thần thoại, bởi thử nghĩ xem, trên đời mấy ai có thể rút gân, đánh bại được thần Zeus quyền năng. Typhon là đứa con cuối cùng của Đất mẹ Gaia phối ngẫu với Địa ngục Tartarus, mang theo sứ mệnh giải cứu những đứa con Titan của Gaia bị Zeus giam cầm, và lật đổ Zeus thống trị thế giới.

Cơ thể Typhon to lớn vĩ đại, đầu muốn chạm tới trời, thân dài như sông biển, lại thêm đôi cánh sải rộng mênh mông. Khắp cơ thể hắn là rắn: đầu là 100 con rắn độc, ngón tay là 10 con rắn, cùng phát ra những tiếng gào rít ghê rợn, miệng có thể phun ra lửa. Lại có thể giả tiếng kêu của động vật, sủa như chó, gầm như sư tử, biến hóa khôn lường. Với vóc dáng khủng khiếp và sức mạnh vô địch, Typhon đã có một cuộc chiến huyền thoại với Zeus. Tất nhiên là sau khi các vị thần linh khác đã… tháo chạy hết sang Ai Cập, biến cả thành động vật để né Typhon, chỉ còn mỗi cha con Athena và Zeus ở lại chiến đấu. Trận chiến diễn ra long trời lở đất, và kết thúc hiệp đầu tiên, Zeus bị Typhon đánh bại, lóc hết gân đem giấu vào bọc cho con rồng Delphyne canh giữ.

Zeus bị rút gân không cử động được, sống không bằng chết, lại bị Typhon nhốt vào một hang động hẻo lánh trên đảo Sicile. Tình hình khiến các vị thần Olympus lao đao vì lo lắng. Lúc đó, thần Hermes và thần Pan đứng ra tìm cách cứu Zeus. Họ tới gặp Typhon với chiếc đàn lyre, lừa nó rằng cây đàn tuyệt diệu này đang bị hỏng dây, và chỉ có gân của một vị thần mới có thể sửa được cây đàn thánh thót trong trẻo như ban đầu. Typhon tin thật, giao cho họ gân của Zeus. Hermes và Pan bèn nối gân cho Zeus, ông trỗi dậy mạnh mẽ hơn xưa, trở lại đối đầu với Typhon. Sau một hồi quần thảo không phân thắng bại, cuối cùng Zeus ném nguyên một quả núi đè bẹp Typhon, giáng nó xuống lòng núi lửa Etna, có người nói nó bị giáng hẳn xuống địa ngục Tartarus. Tương truyền, Typhon bị nhốt dưới lòng núi vẫn không ngừng cựa quậy hòng tìm cách thoát ra, chính vì thế mà nhân gian vẫn thường xảy ra động đất hoặc núi lửa phun trào.

Dưới lòng đất, Typhon lại kết duyên với mụ nữ quái Echidna, sinh ra rất nhiều quái vật có tiếng trong thần thoại Hy Lạp, có dịp sẽ kể sau. Còn đối với Zeus, kể từ đó vị thần tối cao cai trị trong yên bình, không phải đối mặt với những đại họa mà bà nội Gaia gây ra nữa, bởi bà ta sau dăm phen thất bại đã chịu buông xuôi. Zeus cũng không để bụng chuyện xưa, có nguồn cho rằng ông đã thả các Titan và cả Cronus cha ông khỏi Tartarus và đưa họ tới những hòn đảo vĩnh hằng của hạnh phúc (Isles of the Blessed).


3. Hecatoncheires


Hecatoncheires có nghĩa là “Kẻ trăm tay”. Thật vậy, Hecatoncheires là ba sinh vật khổng lồ trông hơi bị quái thai ngâm giấm với 100 cánh tay và 50 cái đầu (không hiểu đi đứng kiểu gì). Và cũng giống như Cyclops, chúng đều do Đất mẹ Gaia và Bầu trời Uranus sinh ra, và ngay lúc mới sinh, vì hình dạng quá gớm ghiếc mà chúng đã bị Uranus tống xuống địa ngục Tartarus. Tên chúng lần lượt là Cottus, Briareus and Gyges.

Sau này trong đại chiến với các Titan, Zeus đã giải phóng các Hecatoncheires. Chúng trở thành đồng minh và giúp ông đánh bại các Titan và nhốt những bậc cha chú xuống Tartarus. Nhiệm vụ canh gác địa ngục Tartarus được Zeus giao lại cho các Hecatoncheires sau khi chiến tranh qua đi.

4. Cyclops


Cyclops là tên gọi chung của những gã khổng lồ một mắt. Những Cyclops thế hệ đầu tiên được sinh ra bởi sự phối ngẫu của Đất mẹ Gaia và Bầu trời Uranus, chúng tên là: Brontes, Steropes và Arges. Cả ba Cyclops đều là những thợ rèn tài giỏi, họ đã rèn ra những loại vũ khí kỳ diệu cho các vị thần Olympus: tia sét của Zeus, đinh ba của Poseidon, mũ tàng hình của Hades…

Cyclops


Nửa đầu cuộc đời của họ là cuộc sống bị cầm tù. Uranus lo sợ sức mạnh của những Cyclops sẽ lật đổ mình nên đã nhốt họ xuống địa ngục Tartarus. Họ bị giam cầm trong suốt cả thời Uranus thống trị, rồi sau đó là thời Cronus, cho đến khi Zeus giải thoát cho họ. Các Cyclops trở thành đồng minh quan trọng của Zeus trong cuộc chiến chống lại các vị cha chú Titan. Vì công lao ấy, cả ba Cyclops được giữ lại trên đỉnh Olympus, giúp việc cho thần thợ rèn Hephaestus. Họ đã giúp Olympus xây dựng lên những công trình kỳ vĩ và những vũ khí nhiệm màu.


Về sau, vì Zeus đã dùng tia sét do lũ Cyclops rèn để giết chết Asclepius, vị thần y học và là đứa con cưng của Apollo, mà thần Apollo đã giận cá chém thớt, giết cả ba gã Cyclops. Người đời kể rằng những bóng ma của chúng vẫn lảng vảng quanh ngọn núi lửa Aetna.

Thế hệ thứ hai của dòng giống Cyclops không rõ nguồn gốc, nhưng kẻ đứng đầu trong số chúng là gã cyclops Polyphemos hùng mạnh, con trai của thần Poseidon và tiên nữ Thoosa (con gái hải thần Phorcys). Khác với thế hệ đầu, thế hệ Cyclops mới này thường rất hung bạo, thô kệch và có tính khí thất thường, nhưng lại làm nghề chăn cừu thanh đạm. Một ngày kia, người anh hùng Odysseus phiêu dạt tới hòn đảo này, đoàn người đi cùng bị lũ Cyclops bắt giữ và ăn thịt. Odysseus sau nhiều ngày bị giam cầm đã cùng các đồng đội chọc mù mắt lũ Cyclops và thoát thân. Thần Poseidon mang mối hận thù với Odysseus vì hại con trai ông ta cũng từ ngày đó.

Cre: Epic News
------------------------

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2020

12 Titans - Titanides trong thần thoại Hy Lạp



Trong số những người con của Gaia và Uranus có 12 vị thần khổng lồ, được gọi là các Titans (nam) và Titanides (nữ). Các vị thần này theo truyền thống gia đình cũng anh em trong nhà lấy nhau theo cặp, sinh con đẻ cái, tạo ra những hậu duệ, trong đó có thế hệ thần linh Olympus lừng danh. 12 vị đó, lần lượt bao gồm:

Oceanus và Tethys:

Oceanus


Titan Oceanus là vị thần cai quản biển khơi, ông lấy người em gái Tethys và đây đích thị là cặp đôi mắn đẻ hàng đầu Hy Lạp, sinh ra ba ngàn trai, ba ngàn gái trải khắp bốn phương. Các nam thần đều là các vị thần sông, còn các vị nữ thần là các tiên nữ biển cả gọi chung là Oceanids. Trong số các Oceanids có rất nhiều nữ nhân có tên tuổi trong thần thoại Hy Lạp, phải kể đến Metis - vợ đầu của Zeus, Amphitrite - đệ nhất phu nhân đại dương vợ thần Poseidon, Thetis - mẫu thân của anh hùng Achilles…

Tethys


Coeus và Phoebe:

Coeus


Hai anh em vợ chồng này sinh ra hai chị em Leto và Asteria. Leto chính là mẹ của hai anh em Apollo và Artemis, còn Asteria sau lấy anh họ Perses và sinh ra nữ thần của Ma thuật Hecate. Đôi vợ chồng này ít được nhắc tới trong thần thoại.
Phoebe


Hyperion và Theia:

Hyperion


Đôi vợ chồng này lại sinh ra ba anh em Helios – thần Mặt trời, Selene – nữ thần Mặt trăng và Eos – nữ thần Rạng đông có những ngón tay hồng. Cặp đôi này cũng ít được nhắc tới trong thần thoại.
Theia

Cronus và Rhea:


Cronus


Titan Cronus và Rhea lại sinh ra sáu vị thần: ba nữ thần (Hestia, Demeter, Hera) và ba nam thần (Hades, Poseidon, Zeus). Về Cronus sẽ có nhiều điều để kể, phải dành một bài riêng. Đôi này ắt là cặp vợ chồng nở mày nở mặt nhất trong mấy anh em, có dàn “con nhà người ta” thống trị đỉnh Olympus. Ngoại trừ chuyện ông bố dã tâm bị thằng con nhốt xuống Tartarus giam cầm… ừ thì gia đình vẫn đáng để nở mày nở mặt.

Rhea


Crius:

Crius

Titan Crius lại nói không với cưới chị em trong nhà, thay vào đó ông cưới em họ Eurybia là con gái của Đất mẹ Gaia và Biển cả Pontus. Họ sinh ra ba anh em Astraeus, Pallas và Perses. Con cái của ba anh em nhà này cũng khá nhiều thần được biết đến: những vị thần của bốn ngọn gió, Hecate nữ thần ma thuật, Nike nữ thần chiến thắng, nữ quái Scylla, hay có cả một vị thần tên là… Kratos! (Kratos mà lại không phải là Kratos).

Iapetus:

Iapetus

Titan Iapetus cũng không cưới chị em ruột, mà lấy người cháu họ là một tiên nữ Oceanid tên Clymene. Họ sinh được bốn người con trai gồm Atlas - vị thần đỡ cả bầu trời, Prometheus - vị thần đem lửa xuống cho loài người, Epimetheus và Menetius.

Themis:

Themis

Bà là nữ thần Công lý và Pháp luật. Bà từng kết hôn với Zeus và sinh ra những nữ thần Horae. Về bà đã có bài viết riêng trong album Thần thoại Hy Lạp.

Mnemosyne:

Mnemosyne

Titanide Mnemosyne là nữ thần của Trí nhớ và Ký ức. Nhờ có bà mà con người lưu giữ lại được kinh nghiệm và hiểu biết trong cuộc sống. Lại cũng giống như Themis, bà có tằng tựu với thần Zeus, không chỉ một lần, mà chín lần trong chín đêm liên tiếp, sinh ra chín nàng Muses - những nàng tiên nghệ thuật.

Cre: Epic
-----------------------------

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2020

Những Báu Vật Nổi Tiếng Trong Truyền Thuyết Phần 2


1. Rượu Thi ca


Bạn cứ tưởng tượng thế này, ở thời đại của những người Viking, chẳng có mạng xã hội hay là Iphone, đến cái rạp chiếu phim cũng chẳng có, chỉ có 2 cách để bạn có thể chinh phục một cô gái và thuyết phục cô ấy đẻ con trai cho, thứ nhất là to khỏe dũng mãnh như thần Thor, lao như điên trên chiến trường và múa rìu loạn cả lên. Cách thứ 2 là trở thành một người thông thái, ăn nói thông tuệ và miệng lưỡi luôn tràn đầy văn thơ.
Thực ra thì cách thứ nhất có thể còn dễ dàng hơn với người Viking. Chính vì vậy mà Rượu Thi ca (Mead of Poetry) trở thành một báu vật đáng khao khát của con người thời đó.
Theo truyền thuyết, thứ rượu kì lạ này có liên quan đến cái chết thương tâm của thần Kvasir. Ông là vị thần của Tri thức. Kvasir luôn chịu khó học hỏi và thường chu du khắp muôn nơi để thu thập các kiến thức, chính vì vậy mà chẳng có câu hỏi nào trên đời mà Kvasir không thể giải đáp.
Một ngày nọ, Kvasir bị 2 gã người lùn lừa đến nhà rồi giết chết (vì chúng ghen tị với trí tuệ của ông). Chúng lấy máu của thần Kvasir, trộn với rượu mật ong của người lùn, đem ủ và tạo ra một loại rượu mới vô cùng thơm ngon, không những thế khi uống vào lại khiến người ta trở nên thông minh, hiểu biết và có khả năng sáng tác văn thơ. Một kẻ ngu đầu dốt nát nếu uống loại rượu này cũng có thể trở thành học giả hay thi sĩ. Hai tên người lùn cũng không giữ thứ rượu quý giá này được lâu. Về sau, nó rơi vào tay gã khổng lồ Suttung. Suttung giấu các thùng rượu Thi ca dưới lòng núi Hnitbjorg và cho con gái hắn là Gunnlod canh giữ.
Thần Odin, ngồi trên ngai cao của mình ở Asgard đã thấy rõ mọi chuyện. Với một vị thần đam mê tri thức như Odin, ông không thể để thứ rượu quý giá này rơi vào tay lũ khổng lồ hay người lùn. Bằng nhiều phép biến hóa, cuối cùng Odin cũng lừa được anh trai của Suttung dẫn mình đến chỗ cất giấu rượu và giúp ông khoan thủng lòng núi. Odin biến thành một chàng trai quyến rũ, đồng ý ngủ với nàng khổng lồ Gunnlod trong 3 đêm để đổi lấy 3 thùng rượu Thi ca (vì rượu bán thân).
Sau 3 đêm loan phụng đảo điên, thần Odin ôm ngay 3 thùng rượu ra cánh đồng uống sạch sành sanh rồi hóa thành con đại bàng bay về Asgard (chắc sợ đến già). Suttung nhanh chóng phát hiện ra và cũng hóa thành đại bàng đuổi theo Odin nhưng các vị thần ở Asgard đã kịp trông thấy và ra tay ngăn chặn tên khổng lồ. Thần Odin (trong lốt con đại bàng), há mỏ nhổ đống rượu đang ngậm trong họng xuống cho các vị thần cùng uống, từ đó mà vị nào ở Asgard cũng thông tuệ, tài giỏi. Tương truyền, có một vài giọt rượu rơi xuống Midgard nên con người chúng ta được hưởng sái từ các thần, giờ mới thông minh như thế, mới xuất hiện những học giả, nhà thơ, nhà văn cho đến bây giờ. Đương nhiên, vì chỉ là "bản dùng thử" nên trí thông minh của con người chẳng bao giờ sánh nổi các vị thần dùng bản full cả.

2. Những phiến đá Định mệnh


Trong thần thoại của người Lưỡng Hà tồn tại một thần vật quý báu, đó là bộ 3 phiến đá của định mệnh, 1 phiến tượng trưng cho tương lai, một phiến là quá khứ và một phiến là hiện tại và do thần Enlil - vị thần của gió nắm giữ.
Theo miêu tả, những phiến đá này đều có lỗ ở giữa để gắn vào một cây trục giúp những phiến đá có thể quay tròn liên tục (như số phận con người luôn chuyển động và biến đổi không ngừng vậy). Cũng tương tự như cuốn sách của thần Thoth trong thần thoại Ai Cập, trên những phiến đá Định mệnh có ghi chép những kiến thức về vũ trụ và thế giới, sự tồn tại của thần linh và vạn vật... Sở hữu những phiến đá này cũng tức là sẽ có khả năng thấu hiểu vạn sự trên thế gian, nắm giữ những tri thức bí mật của vũ trụ, có được những quyền năng của một vị thần tối cao. Không những thế, vì là những phiến đá của Định mệnh, người nắm giữ chúng còn có thể tác động, thay đổi số phận của chính mình và những người khác... Những quốc gia sở hữu chúng cũng có thể khiến quân đội của mình trở nên hùng mạnh, bất bại trên chiến trường. Có lẽ chính vì sự toàn năng của thần vật này mà các vị thần đã cố gắng giữ gìn để nó không bao giờ có cơ hội lọt vào tay một người trần nào, (và có vẻ họ làm việc này khá tốt).
Một trong số những kẻ hiếm hoi đánh cắp được những phiến đá Định mệnh khỏi tay thần Enlil là Anzu - một con ác điểu khổng lồ nửa sư tử nửa đại bàng. Ngay khi những phiến đá bị đánh cắp, thế giới dường như mất đi sự cân bằng vốn có và rơi vào trạng thái hỗn loạn. Các vị thần nhanh chóng cử thần Ninurta - vị thần săn bắn và chiến tranh, dùng cây cung của ông giết chết con quái vật, đoạt lại những phiến đá.
Trải qua nhiều giai đoạn biến động, nhữnng phiến đá cũng không còn thuộc sở hữu của riêng thần Enlil nữa. Các vị thần lập ra một hội đồng bình chọn và những phiến đá lần lượt được trao cho Enki, Tiamat. Trong cuộc nội chiến các vị thần, Tiamat treo 3 phiến đá cho con trai và cũng là chiến tướng của bà - thần Kingu để tăng sức mạnh. Thế nhưng Kingu lại bị đánh bại bởi Marduk - con trai của Enki. Marduk giết Kingu, đoạt lấy 3 phiến đá Định mệnh, trở thành người lãnh đạo chư thần và lập ra vương quốc Babylon hùng mạnh.

3. Chiếc hộp Pandora


Đây là một ví dụ tiêu biểu cho việc không phải thứ báu vật nào của thần linh cũng đều tốt lành đối với chúng ta.

Trước khi giải thích chiếc hộp Pandora là gì, người viết xin kể lại một chút về nguồn gốc của loài người chúng ta trong thần thoại Hy Lạp, điều có liên quan mật thiết với câu chuyện về chiếc hộp này.

Sau cuộc chiến giữa các Titan và các Olympian, Zeus và các anh chị em thắng trận. Họ trở thành các vị thần cai quản Olympus cũng như thế gian, còn các Titan bao gồm cả cha họ là Cronus thì bị giam cầm dưới địa ngục Tartarus
Có 2 Titan thoát khỏi cảnh ngục tù đó là Prometheus và Epimetheus, bởi 2 ông này không tham gia vào cuộc chiến. Zeus đã giao cho 2 ông nhiệm vụ tạo ra con người và các sinh vật sống khác trên trần gian.

Prometheus lấy đất sét nặn ra con người, rồi thần Athena thổi sự sống vào. Epimetheus có nhiệm vụ trao tặng những khả năng đặc biệt cho muôn loài như sự nhanh nhẹn, tốc độ, sức mạnh, đôi cánh ….Không may rằng, đến khi Prometheus tạo ra con người thì Epimethus đã trao tặng hết các khả năng tốt cho các loài khác, chẳng còn lại gì cho loài người chúng ta.

Prometheus, vì rất yêu quý con người, đã tạo hình cho con người có dáng đứng thẳng như các vị thần, và ông còn lén ăn cắp ngọn lửa của các vị thần, đem xuống cho loài người. Nhờ có lửa của Prometheus, loài người yếu đuối không còn sợ bóng tối và thú dữ, dần dần mới phát triển cho đến ngày nay.

Khi biết chuyện, thần Zeus vô cùng nổi giận và quyết định trừng phạt Prometheus cùng loài người.

Với Prometheus, Zeus xích ông vào ngọn núi Caucasian và ngày này sai một con chim khổng lồ đến khoét ruột gan ông, bắt Prometheus phải chịu đựng nỗi đau đớn đó hàng ngày. Về sau, chính anh hùng Heracles – con trai của Zeus, đã giết chết con chim, chặt đứt xích và giải thoát cho Prometheus.

Còn đối với loài người, thần Zeus có một cách trừng phạt khác. Zeus ra lệnh cho thần thợ rèn Hephaestus nặn ra một người phụ nữ tên là Pandora. Nàng là người phụ nữ đầu tiên của loài người.

Các vị thần đều trao tặng những món quà cho Pandora. Nữ thần Athena cho nàng quần áo, Aphrodite cho nàng sắc đẹp, thần Appollo cho nàng khiếu âm nhạc, thần Hermes cho nàng khả năng nói…

Sau đó, thần Zeus gả Pandora cho Epimetheus và để họ sống chung với loài người. Món quà cuối cùng mà Zeus tặng cho Pandora là một chiếc hộp. Đó cũng là sự trừng phạt của Zeus.

Mặc dù Prometheus đã cảnh báo Epimetheus chớ nên nhận món quà của Zeus, nhưng Epimetheus lại quá chiều lòng vợ mình – nàng Pandora xinh đẹp mà giữ lại món quà ( đấy cái tội nghe lời vợ là không bao giờ khá được mà).
Tuy đã được căn dặn không được mở hộp ra, nhưng Pandora không chiến thắng nổi sự tò mò, mở nắp hộp, và mọi điều xấu xa, độc ác trong đó thoát ra. Từ đó, con người mới có những đức tính xấu như lòng tham, sự đố kỵ, giả dối, phản bội … Chúng ta hận thù, tranh giành và chém giết nhau, tạo ra những cuộc chiến tranh cũng là do chiếc hộp của Pandora.

Tuy vậy, người ta nói rằng, vẫn còn một điều tốt đẹp hiếm hoi sót lại trong chiếc hộp của Pandora, đó là niềm hy vọng. Nhờ có hy vọng, con người mới có thể đứng vững và vượt qua mọi thử thách, khó khăn của cuộc đời.

4. Bàn tay Vinh quang


Đây là một truyền thuyết nổi tiếng trong giới đạo chích châu Âu thời xưa. Bàn tay Vinh quang (Hand of Glory) thực chất là một bàn tay khô của người chết, được những tay trộm mang theo bên mình như một tấm bùa may mắn mỗi khi thực hiện một phi vụ nào đó. Theo những lời đồn thổi, thì Bàn tay Vinh quang thực sự có những đặc tính ma thuật giúp cho chủ sở hữu có thể đạt đến đỉnh cao vinh quang của ngành đào tường khoét vách ví dụ như:
- Cầm theo Bàn tay Vinh quang khiến tên trộm có thể nhìn trong bóng tối hoặc khiến hắn trở nên vô hình
- Được sử dụng để làm một cây đèn thắp sáng, lửa sẽ không bao giờ tắt
- Có khả năng mở được mọi ổ khóa cho dù phức tạp nhất, kiên cố nhất
- Mỗi khi giơ ra có thể ru ngủ chủ nhà hoặc làm bất động những kẻ nhìn thấy
Một lợi ích quan trọng nữa, khi lấy các ngón tay trên Bàn tay Vinh quang để làm nến thắp sáng, nếu tất cả các ngón tay đều bắt lửa thì tức là mọi người trong ngôi nhà mà tên trộm đang đột nhập đều đã ngủ say, và một khi các ngọn lửa còn sáng thì tức là chưa có ai tỉnh dậy. Và đương nhiên, khi thắp lửa mà có một ngón tay không sáng thì tức là có người trong nhà đang thức, hoặc có thể là số lượng người trong ngôi nhà đó ít hơn số ngón tay (ít hơn 5). Điều này là vô cùng quan trọng và có thể là yếu tố mấu chốt giúp những tên trộm có làm ăn trót lọt hay không khi biết được số người có trong nhà, đã ngủ hay còn thức.

Vậy bàn tay Vinh quang được tạo ra như thế nào? Nếu dễ dàng có được thì hẳn ai cũng bỏ việc để đi làm đạo tặc mất. Ngoài việc phải là 1 kẻ to gan lớn mật, dám mang theo một bàn tay người chết trong người, thì việc chế tạo ra một bàn tay Vinh quang cũng khá kì công, Bàn tay được dùng để tạo ra thứ bùa này phải là tay của một tên trộm hoặc một tên tội phạm vừa bị treo cổ. Thông thường người ta sẽ chọn lấy bàn tay phải, nhất là của những kẻ bị treo cổ vì tội giết người, vì quan niệm cho rằng bàn tay phải thường sẽ khéo léo hơn (cũng có những kẻ thì cho rằng nên chặt lấy bàn tay trái để làm bùa sẽ tốt hơn, vì tay trái phù hợp với những việc làm sai trái). Bàn tay phải được lấy vào lúc nửa đêm, tốt nhất là trong khoảng thời gian diễn ra nguyệt thực. Máu phải được rút ra hết, sau đó phải đem bàn tay ngâm với một thứ dung dịch đặc biệt gồm muối và ớt trong 2 tuần, sau đó vớt ra đem phơi khô trong nhiều tháng (cứ như làm ô mai ý nhỉ). Trong toàn bộ quá trình chế tạo Bàn tay Vinh quang, tên trộm còn phải thực hiện những nghi thức và đọc những câu thần chú cần thiết. Thứ dầu để thắp sáng những ngón tay này cũng không hề tầm thường mà phải làm từ mỡ và tóc của người đã chết.

Tuy nhiên, theo truyền thuyết, cũng có một số phương pháp để các chủ nhà có thể sử dụng để ngăn ngừa và vô hiệu hóa ma thuật của thứ bùa hắc ám này bằng cách bôi lên cửa ra vào và cửa sổ một hỗn hợp gồm mật của mèo đen, mỡ của gà mái trắng và máu của một con cú, và nhất định phải được bôi vào ngày nóng nhất của mùa hè, nếu không sẽ không linh nghiệm. Xem ra cả tay trộm và chủ nhà đều khá vất vả chẳng ai kém ai nhỉ?

5. Rương Thánh tích


Chiếc rương của người Do Thái là một thánh tích kể về những tấm bảng chứa mười điều răn dạy mà Moses đã thu nhận được từ Chúa. Những tấm bảng này còn được cho là một cách nói chuyện với Chúa. Vì vậy, người ta cho rằng chiếc rương chứa sức mạnh rất lớn khi những người Do Thái bị trục xuất khỏi Ai Cập, người ta cho rằng chiếc rương này đã giúp rẽ nước sông Jordan để những người Do Thái kia có thể trốn chạy. Tuy nhiên, khi rơi vào tay kẻ xấu, chiếc rương này sẽ mang những lời nguyền vô cùng khủng khiếp.

Khi Philistines cướp chiếc rương, người dân toàn bộ thành phố đã bị suy sụp vì căn bệnh trĩ do đó họ sớm phải trả lại chiếc rương cho chủ của nó, đó là những người Do Thái

Có nhiều cầu chuyện về cơn thịnh nộ của chiếc rương này trong kinh thánh. Nơi cất giữ chiếc rương này hiện nay vẫn chưa ai biết.Trong nhiều ghi chép cổ, có nhiều quy luật khi nắm giữ chiếc rương: hai chiếc sào để nâng rương không bao giờ được bỏ đi, chiếc rương cần phải được nâng lên vai trong quá trình di chuyển và bất cứ ai chạm vào chiếc rương này đều phải dẫn đến chết

Cre: Epic

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2020

Những Báu Vật Nổi Tiếng Trong Truyền Thuyết Phần 1


1. Cuốn sách của Thoth


Thoth là vị thần mang hình dạng thân người, đầu cò (hoặc khỉ đầu chó) trong thần thoại Ai Cập. Ông đại diện cho trí tuệ, cai quản toàn bộ những văn bản và tri thức của thế gian. Tương truyền, thần Thoth có một cuốn sách thần bí mà người ta thường gọi là "The book of the dead" (Cuốn sách của người chết" hay đơn giản là "The book of Thoth" (Cuốn sách của Thoth). Đây là cuốn sách ma thuật chứa đựng vô vàn kiến thức trên thế gian mà thần Thoth đã ghi chép lại. Người ta tin rằng kẻ nào đọc được cuốn sách của thần Thoth sẽ có thể giải mã mọi bí mật trên đời, điều khiển các nguyên tố của tự nhiên (lửa, nước, đất và gió). Ngoài ra, người đọc cuốn sách còn có thể hiểu được ngôn ngữ của động vật, giao tiếp được với các vị thần. Chính vì vậy không khó giải thích khi cuốn sách của thần Thoth trở thành một báu vật quyền năng được những kẻ tò mò và đầy tham vọng săn lùng, mơ ước.

Tuy nhiên, cuốn sách thần bí này không hề dễ đoạt được tẹo nào. Theo truyền thuyết, cuốn sách của thần Thoth được cất giữ trong một chiếc hộp bằng vàng, chiếc hộp bằng vàng được đựng trong một chiếc hộp bằng ngà voi, hộp ngà voi được đựng trong một hộp gỗ, hộp gỗ đựng trong một hộp bằng đồng, hộp đồng đựng trong một hộp bằng sắt, hộp bằng sắt này được chôn dưới đáy dòng sông Nile chảy qua thị trấn Koptos ở Ai Cập, bao quanh cái hộp là một lũ bọ cạp và một con rắn bất tử bảo vệ chiếc hộp (nghe đã thấy chùn bước rồi). Truyện kể rằng cuối cùng cũng có một con người tìm thấy chiếc hộp, chiến thắng con rắn và đoạt được cuốn sách thần, đó là chàng hoàng tử Neferkaptah dũng cảm. Thế nhưng, chẳng lâu sau đó, chàng đã phải nhận sự trừng phạt của thần linh, đứa con trai yêu quý của chàng qua đời. Neferkaptah tự sát và bị nguyền rủa trở thành một bóng ma mãi mãi ám theo cuốn sách. Một số kẻ sau này đoạt được cuốn sách rồi cũng bị bóng ma của Neferlaptah trừng phạt. Cuốn sách biến mất không còn tung tích. Đây là một bài học cho con người, tốt nhất đừng nên mó tay vào hàng của các vị thần.

2. Bộ lông cừu vàng


Trong thần thoại Hy Lạp có sử thi về chàng Jason và đoàn thủy thủ Argonaut trong chuyến hành trình đi tìm bộ lông cừu vàng. Để hiểu rõ về bộ lông cừu quý giá này, chúng ta phải bắt đầu câu chuyện từ 2 anh em Phrixus và Helle, những đứa con của nhà vua xứ Boeotia. 2 đứa trẻ bị mẹ kế hãm hại và suýt chút nữa bị chính cha mình đem đi hiến tế, may thay, trong phút sinh tử, từ trên trời bay xuống một con cừu lớn với đôi cánh của loài chim và bộ lông vàng óng như vàng, kịp thời cứu thoát 2 đứa trẻ mang đi. Con cừu lông vàng này là một linh thú vô cùng thông minh mạnh mẽ, có thể hiểu tiếng người, chạy nhanh như ngựa mà một ngày có thể bay xa ngàn dặm. Nó là con cừu năm xưa thần Hermes đã tặng cho nàng Nephele- mẹ của 2 đứa trẻ.
Con cừu vàng chở 2 anh em bay qua nhiều đồi núi, cánh rừng, cách xa vương quốc của người cha và mẹ kế độc ác. Rất tiếc khi bay qua một eo biển, cô em gái Helle đã ngã khỏi lưng cừu và tử nạn. Người anh trai Phrixus may mắn hơn, được con cừu đưa đến xứ Colchis an toàn. Chàng được đức vua ở đây nhận nuôi và gả con gái cho. Để tạ ơn các vị thần, Phrixus đã hiến tế con cừu vàng (phũ vậy). Bộ lông của con cừu, chàng đem treo trên một cành cây trong khu rừng thiêng của thần Chiến tranh Ares. Thần Ares đã cử một con rồng nguy hiểm đến canh gác bộ lông cừu. Con rồng chứ Colchids không bao giờ ngủ này là một trong những đứa con của Echidna và ác thần Typhon.
Các chiến binh Hy Lạp, rất muốn chiếm được bộ lông cừu vàng, đặc biệt là chàng Jason, người thừa kế ngai vàng cứ Iolcos. Để chứng minh quyền thừa kế hợp pháp của mình, Jason buộc phải lập nên một kỳ tích. Vậy là chàng lãnh đạo những chiến binh mạnh mẽ nhất Hy Lạp lúc bấy giờ, trên con tàu Argos - nhờ sự hỗ trợ của các vị thần, giong buồm đi đến Colchis. Trải qua vô vàn thử thách gian lao, Jason và thủy thủ đoàn cuối cùng cũng giáp mặt với con rồng Colchis. Họ ru ngủ con quái vật và đoạt được bộ lông cừu vàng huyền thoại. Chàng Jason trở về quê hương với bộ lông cừu vàng và chiến tích lẫy lừng, được công nhận là một vị vua đích thức. Câu chuyện và cái kết của Jason cũng không hẳn là happy-ending, các bạn có thể tìm đọc.
Bộ lông cừu vàng, trên thực tế có lẽ cũng chẳng có phép thuật gì đặc biệt, tuy nhiên nó vẫn được coi là một báu vật có một không hai trên trần gian có lẽ bởi nó biểu trưng cho sức mạnh, lòng dũng cảm và thiên mệnh của một vị vua hay một người anh hùng. Kẻ nào sở hữu bộ lông cừu vàng cũng tức là kẻ chiến thắng, được thiên hạ ghi nhận như một chiến công lẫy lừng, mà xét cho cùng, đối với những chiến binh Hy Lạp - công danh và những chiến tích để đời chính là báu vật cả đời họ đeo đuổi.
P/s: Lại kể, trong thủy thủ đoàn đi tìm bộ lông cừu vàng ban đầu còn có sự tham gia của Heracles - người anh hùng vĩ đại nhất Hy Lạp. Ở đoạn đầu của cuộc hành trình, theo sự sắp đặt của các vị thần, Heracles bị bỏ thủy thủ đoàn bỏ lại, bởi chàng sẽ phải thực hiện 12 kỳ công vĩ đại sắp tới. Thật may cho Jason, nếu có "hàng khủng" như Heracles đi cùng, có lẽ vinh quang đã chẳng thuộc về chàng Jason.


3. Con dấu của vua Solomon


Solomon - vị vua thứ 3 của vương quốc Israel, là vị vua huyền thoại nổi tiếng khắp thế giới vì sự thông thái và khôn ngoan. Trong thời đại ông trị vì, Israel trở thành một trong những vương quốc hùng mạnh và giàu có bậc nhất. Nhờ sự thông thái của Solomon, các vị quân vương, quý tộc và vô vàn dân thường từ khắp thế giới đều lặn lội đến gặp ông để xin những lời khuyên hoặc giải đáp những bí ẩn. Solomon nổi tiếng là vị vua giàu có với khối lượng tài sản, vàng bạc châu báu khổng lồ. Cho đến ngày nay, kho báu của vua Solomon vẫn là một dấu hỏi khiến nhiều kẻ mơ tưởng.
Tuy nhiên, ngoài sự thông thái và kho báu khổng lồ, một điều đặc biệt khiến vua Solomon trở thành huyền thoại bởi ông còn có khả năng triệu hồi và sai khiến 72 chúa quỷ dưới địa ngục thông qua những nghi thức và kết ấn bí mật (mà hiện nay đang được rao bán trên Amazon với gía chưa đến 20 đô). Đây đều là những con quỷ hùng mạnh, có thể mang đến cho người triệu hồi chúng vàng bạc châu báu cũng như nhiều khả năng đặc biệt (nhìn trước tương lai, dịch chuyển tức thời, lấy mạng kẻ thù...). Và để điều khiển, kìm chế những con quỷ đáng sợ này, Solomon phải nhờ đến một con dấu đặc biệt được in trên mặt một chiếc nhẫn bằng đồng thau và sắt mà ông đeo. Tương truyền, trên con dấu này có khắc tên của Chúa Trời, là báu vật của Thiên đàng ban tặng cho vua Solomon, có thể kiểm soát, giam giữ và tiêu diệt quỷ dữ. Có lẽ con dấu này mới là bảo vật quý giá nhất trong cả đống kho tàng của vua Solomon huyền thoại.

4. Chén Thánh


Chén Thánh (Holy Grail) tương truyền chính là chiếc chén mà Chúa Jesus đã dùng trong Bữa ăn cuối cùng. Người ta đồn rằng Chén Thánh chứa nhiều quyền lực , sức mạnh vô biê và cả sự trường sinh bất tử mà sẽ ban cho kẻ nào may mắn sở hữu nó, khiến biết bao kẻ thèm muốn và truy lùng suốt 2000 năm qua cũng như trở thành một trong những chủ đề huyền bí và hấp dẫn nhất, là nguồn cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm hội họa, tiểu thuyết và phim ảnh.
Chính vì sự huyền bí của mình mà xuyên suốt lịch sử, người ta đã kể rất nhiều phiên bản khác nhau về câu chuyện xung quanh chiếc Chén Thánh. Một trong những giả thuyết được kể đến nhiều nhất về nguồn gốc của Chén Thánh thì cho rằng thuở xa xưa, lúc Lucifer còn là một thiên thần quyền lực trên Thiên Đàng, hắn ta có đội một chiếc vương miện có gắn một viên đá lục bảo. Khi Lucifer bị trục xuất khỏi thiên đàng, viên ngọc bị bong ra khỏi vương miện của hắn và rơi xuống trần gian. Ai đó đã nhặt được viên ngọc và tạo ra một chiếc chén (hoặc đúc viên ngọc đó vào một chiếc chén), thế rồi nó thực sự trở nên nổi tiếng khi chúa Jesus dùng nó trong bữa ăn cuối cùng. Tương truyền chiếc chén sau đó được sử dụng để hứng máu của Jesus khi ông bị đóng đinh.
Một nhân vạt nổi tiếng khác trong truyền thuyết gắn liền với những giai thoại về Chén Thánh đó chính là vua Arthur và các hiệp sĩ Bàn Tròn. Vua Arthur sau khi tạo lập vương quốc Camelot, đánh đuổi những kẻ thù xâm lăng thì mục tiêu sở hữu Chén Thánh trở thành nỗi khao khát và ước mơ lớn nhất đối với ông cũng như các hiệp sĩ. Họ bỏ lại gia đình và vương quốc, rong ruổi khắp mọi miền để lần theo tung tích báu vật thần bí này. Đến cuối cùng các hiệp sĩ đi tìm Chén Thánh người thì bỏ mạng, kẻ thì bị thương nặng trở về. Tương truyền trong số các hiệp sĩ của vua Arthur, chỉ duy nhất có Galahad - con trai của hiệp sĩ Lancelot (người đã hỗ trợ Guinevere cắm sừng lên đầu vua Arthur ý), được cho rằng là hiệp sĩ có trái tim thuần khiết nhất, có thể nhìn thấy Chén Thánh. Không bao giờ người ta còn thấy Galahad trở về hay nắm được bất cứ tung tích gì của chàng, có người nói rằng Galahad đã tình nguyện ở lại bảo vệ Chén Thánh để nó tránh xa bàn tay con người.
Chính vì sự thiêng liêng và quý giá của Chén Thánh mà cho đến ngày nay, rất nhiều địa điểm khắp các nước châu Âu đều tự nhận rằng họ đang cất giữ Chén Thánh bản chuẩn, một phương thức thu hút du khách hiệu quả.

5. Viên đá Triết gia


Viên đá Triết gia (Philosopher's stone) là bảo vật huyền thoại được săn lùng nhiều nhất thời Trung cổ cho đến cuối thế kỷ 17 - thời đại của những thuật giả kim gây sốt khắp châu Âu. Theo truyền thuyết, viên đá này có khả năng biến các chất liệu kim loại như đồng, sắt... thành vàng và bạc ( vì thế còn được gọi là Viên đá Tạo vàng),Người sở hữu "hòn đá triết gia" sẽ tạo ra được mọi vật chất, chữa lành tất cả bệnh tật, thắp sáng nơi tăm tối, hồi sinh người chết và giữ chìa khóa của sự bất tử. Các tài liệu của Flamel đã miêu tả cụ thể về hòn đá triết gia, nó có 2 màu là trắng, đỏ. Màu trắng dùng để tạo ra bạc, chữa bệnh, màu đỏ dùng để tạo ra vàng ròng và làm bất tử mọi thứ. . Well, vừa bất tử lại giàu có, bảo sao nó được cả nhân loại săn lùng.
Theo nhiều câu chuyện viết lại thì viên đá Triết gia được tạo ra bởi Nicolas Flamel - một nhà giả kim người Pháp sống ở thế kỷ 15. Không rõ thực hư chuyện ông ta có thành công trong việc biến kim loại thành vàng hay không nhưng trong cùng quãng thời gian đó, Nicolas trở nên giàu có một cách bất thường cũng như việc 2 vợ chồng ông, qua nhiều năm, vẫn giữ được dung mạo trẻ trung một cách lạ thường
Các câu chuyện về Nicolas Flamel còn kể lại rằng ông có thể tạo ra viên đá Triết gia là nhờ các kiến thức đọc được trong một cuốn sách kỳ bí ông được tặng. Tương truyền đó là cuốn sách của Abraham - tổ phụ của dân tộc Do Thái theo Kinh Thánh.
Sau khi Nicolas và vợ qua đời, một số kẻ tham lam đã lén đào trộm mộ của 2 vợ chồng lên hòng tìm kiếm tung tích của viên đá thần kỳ này, nhưng thật lạ lùng, dưới mộ không hề có xác chết nào. Điều này dấy lên nghi ngờ rằng Nicolas Flamel thực sự đã luyện được thuật trường sinh bất tử và ông ta vẫn sống sót cho đến tận ngày nay, che giấu thân phận và cả báu vật quý giá nhất lịch sử con người dưới những danh tính khác nhau trên khắp thế giới.

6. Tam chủng thần khí


Đây là bộ ba thần khí quan trọng và mang ý nghĩa thiêng liêng, tôn nghiêm nhất của đất nước Nhật Bản. Theo truyền thuyết, 3 thần khí này là những bảo vật của nữ thần Mặt Trời Amaterasu - vị thần quan trọng nhất trong thần đạo Nhật Bản. 3 món thần khí đó bao gồm:
- Thanh gươm Kusanagi (Thảo thế kiếm) - thanh kiếm lấy từ trong xác con rắn 8 đầu Orochi khi thần Bão tố Susanoo chém chết nó vì thế tượng trưng cho lòng dũng cảm.
- Gương chiếu yêu Yata no Kagami (Bát chỉ kính), tượng trưng cho sự khôn ngoan
- Viên ngọc Yasakani no Magatama ( Bát xích quỳnh khúc ngọc) tượng trưng cho lòng nhân từ.

Nữ thần Amaterasu trao ba thần khí này cho cháu trai mình là Ninigi no Mikoto và phái ông xuống quần đảo Nhật Bản lập nước. Tam chủng thần khí trở thành những thần vật biểu trưng cho hoàng gia Nhật Bản, tuy nhiên có lẽ qua truyền thuyết này, người ta còn muốn ám chỉ 3 đức tính quan trọng nhất của dân tộc Nhật Bản chính là dũng cảm, khôn ngoan và nhân từ. Bởi tính chất thần thoại của ba món đồ này, địa điểm cất giữ chúng không được xác nhận. Thế nhưng, người ta nghĩ rằng thanh gươm được cất giữ ở đền Atsuta ở Nagoya,viên ngọc được cất giữ ở hoàng cung Kokyo tại Tokyo chiếc gương thì được cất giữ ở Thần cung Ise ở tỉnh Mie. Ít nhất một trong ba món đồ không phải là phiên bản gốc.


Cre: EPIC

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2020

Cronus - Truyền thuyết Hy Lạp

Cronus là con út của Uranus và Gaia, và là một trong 12 Titan. Ông lật đổ cha mình là Uranus và trị vì trong thời gian Golden Apple cho đến khi bị con của ông lật đổ lại và bị đày xuống Tartarus và sau đó được gửi đi thống trị Elysian Field. Khi Gaia tìm đến những người con Titan của mình để cắt đứt dương vật của Uranus, chỉ có một mình Cronus dám nhận công việc ấy. Sau khi cứu thoát cho các Cyclops và Hecatonchire, Cronus lại có xích mích với họ và lại đẩy chúng xuống Tartarus. Hành động ấy khiến Gaia bất bình vì Cyclops và Hecatonchire cũng là con của bà. Nữ thần truyền phán rằng sau này Cronus sẽ bị con đẻ của mình truất ngôi.




Cronus cưới Rhea là chị của mình làm vợ, sinh được 5 người con đầu là Hestia, Demeter, Hera, Poseidon và Hades nhưng đều bị Cronus nuốt hết cả vì sợ lời truyền phán của Gaia. Đến khi sắp sinh Zeus, Rhea cầu xin Gaia chỉ cách. Gaia bảo Rhea sang đảo Crete sinh con rồi lấy tã cuốn vào một hòn đá để đưa cho Cronus, thay thế cho Zeus mới sinh. Cronus đã mắc lừa và nuốt cả hòn đá vào bụng.






Sau này, khi Zeus được nữ thần Metis chỉ cách cứu anh chị, Zeus nhờ Rhea cho Cronus uống thuốc mà Metis đưa. Quả nhiên, Cronus nôn hết những gì có trong bụng, kể cả hòn đá trá hình Zeus. Sau đó, cả 6 anh chị em đều chống lại Cronus. Cronus cuối cùng bị giam dưới vực thẳm Tartarus

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

Truyền thuyết 22

Tiamat

Truyền thuyết Tiamat


Trong thần thoại Babylon, Tiamat là một nữ thần biển và là hiện thân của sự hỗn loạn nguyên thủy. Bà ta tạo ra tất cả các vị thần Babylon, rồi sau đó tấn công họ và được chia thành hai bởi thần Marduk, người đã sử dụng phần còn lại của mình để tạo ra trời và đất.

Truyền thuyết Babylon bắt nguồn bởi nước - ở đó xuất hiện vị thần nước ngọt là Apsu tượng trưng cho nam, và vị thần nước mặn Tiamat tượng trưng cho nữ. Sự kết hợp giữa 2 vị thần sinh ra Lahmu và Lahamu, hiện thân là rắn. Mỗi thời kỳ phát triển thêm nhiều vị thần, Lahmu và Lahamu tạo ra Anshar và Kishar. Từ đó xuất hiện Anu.

Anu sinh ra đứa con trai thường gọi là Ea. Mỗi vị thần thế hệ sau thừa hưởng sức mạnh và hoàn thiện hơn các vị thần thế hệ truớc. Mâu thuẫn giữa các thế hệ thần linh bắt đầu nảy sinh tuy nhiên Tiamat - người mẹ của các vị thần vẫn im lặng và kiên nhẫn chờ đợi. Những đưá con thần linh bắt đầu phản kháng lại cha mẹ của chúng.

Bùng nổ tức giận, Apsu quyết định loại bỏ tất cả để làm lại từ đầu. Tuy nhiên, mục đích ấy đã bị Ea phát hiện. Hắn ru ngủ Apsu bằng câu thần chú bùa mê, và Ea đã giết chết Apsu trong lúc đó. Tiamat vẫn không hề có phản ứng gì. Ea dựng lên ngôi đền lớn xung quanh xác Apsu, và sống trong nhung lụa cùng với vị hôn thê của mình là Damkina. Damkina hạ sinh MARDUK - người hùng của mọi thời đại. Marduk xuất hiện với hình thể lạ thường, 4 tai và 4 mắt, thêm vào đó ông nội Marduk là Anu tạo cho hắn 4 ngọn gió để chơi đùa. Điều này làm kinh động các vị thần khác, và họ đã đánh động cho Tiamat, Tiamat không thể lặng im mãi trước sự kinh động như thế.

Tiamat quy tụ đội quân đông đảo quái vật và thần linh dưới trướng. Với sức mạnh bành trướng, Tiamat dễ dàng quật ngã Ea và Anu, nhưng Marduk đã thách đấu với Tiamat một chọi một.

Với vũ khí chỉ đơn giản là 1 cây cung, 1 mũi tên, 1 cây chùa, sấm chớp và mạng lưới tạo bởi 4 ngọn gió, Marduk đã bẫy Tiamat vào lưới tạo bởi 4 ngọn gió của mình; khi Tiamat cố gắng nuốt chửng Marduk, hắn đánh toạc quai hàm Tiamat bằng những cơn lốc xoáy, và xuyên thủng tim bằng mũi tên. Từ đó Marduk tạo ra thế hệ loài người.


Chaos

Chaos được nhắc đến như một vị thần đầu tiên trong thần thoại Hy Lạp. Theo miêu tả thì "đó là một vực thẳm đen ngòm, vô cùng vô tận, trống rỗng, mơ hồ, vật vờ, phiêu bạt trong khoảng không gian bao la . Như vậy, về mặt khoa học, có thể coi Chaos như là phần khoảng không vũ trụ, nơi được dự đoán chứa đựng những hố đen vô cực, bí hiểm và cũng là nơi sinh ra các hành tinh, sự sống trong vũ trụ. 

Truyền thuyết Chaos


Chaos sinh ra năm người con mà chúng ta hầu như ai cũng biết rồi.

Gaia(vị thần đất mẹ)
Tartarus (địa ngục vô tận)
Erebus (vực thẳm và bóng tối khôn cùng)
Nyx (đêm tối vô biên)
Eros (ái tình và dục vọng).



Sōjōbō

Sōjōbō là vua của các Tengu trong thần thoại nhật bản , vị thần nhỏ sống ở các vùng núi và rừng của Nhật Bản . Sōjōbō được miêu tả có mái tóc trắng dài và một cái mũi dài kì lạ. 

Truyền thuyết Sojobo


Ông là Tengu cực kỳ mạnh mẽ, một truyền thuyết nói rằng ông có sức mạnh của gấp 1000 so với các Tengu bình thường khác . Sōjōbō sống trên núi Kurama (phía Bắc của Kyoto ).

Sōjōbō có lẽ là nổi tiếng nhất là việc giảng dạy các chiến binh Minamoto no Yoshitsune (sau đó được biết đến với tên thời thơ ấu của ông Ushiwaka-maru hoặc Shanao) nghệ thuật của kiếm thuật , chiến thuật trong thế kỷ 12.

Trong thực tế, cái tên "Sōjōbō" bắt nguồn từ Sōjōgatani, thung lũng ở núi Kurama Kifune gần ngôi đền liên quan đến việc Shugenja. Đó là trong thung lũng này là Ushiwaka đào tạo với Sōjōbō trong truyền thuyết. Mối quan hệ này là cơ sở của nhiều người Nhật bản khắc gỗ in , trong đó có một bằng Tsukioka Yoshitoshi .

Ngoài ra ở một số làng Nhật Bản, cha mẹ lấy truyền thuyết rằng ông ăn thịt các đứa trẻ để ngăn chặn chúng vào rừng vào ban đêm.


Tengu

Tengu ( nghĩa là “Thiên cẩu”) là một loại youkai trong văn học Nhật Bản, trong hội hoạ, hội kịch, truyền thuyết , lịch sử và văn học . Thuộc một trong các yōkai (yêu quái) được biết đến nhiều nhất, và đôi khi còn được tôn thờ là Shinto kami (linh hồn thanh cao hoặc thần thánh). ngẫu nhiên thay tên của Tengu Nhật bản lại giống với tên của một yêu quái chó của Trung Quốc (Tiangou), người ta vẫn thường nghĩ rằng tengu có hình dạng như một con quạ, và trong thần thoại chúng được miêu tả là có đặc điểm giống cả người lẫn chim. 

Truyền thuyết Tengu


Trong khi ở Phật giáo, tengu được cho là yêu quái và là điềm báo của chiến tranh. Về sau họ đã có phần xóa bỏ cách nghĩ này , nhưnghọ vẫn cảnh giác trước khả năng Tengu vốn xấu xa thì đã có linh hồn của các vị thần Rừng và thần Núi. Tengu được xem như là có liên kết với một đời tu trì khổ hạnh được biết đến dưới cái tên là Shugendō, và chúng thường được miêu tả đặc điểm cách ăn mặc của tay sai nó, yamabushi.

Yggdrasil

Truyền thuyết Yggdrasil


Trong thần thoại Bắc Âu, Yggdrasil là "Cây thế giới", một cây sồi khổng lồ nối liền chín thế giới trong vũ trụ. Asgard, Álfheim và Vanaheim nằm trên cành của cây sồi này. Thân của Yggdrasil xuyên qua tâm Midgard. Xung quanh Midgard là Jötunheim và phía dưới là Nidavellir và Svartálfaheim. Ba cái rễ của Yggdrasil đâm xuống Hel, Niflheim và Muspelheim.

Giả thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất là Yggdrasil là từ ghép của ygg (khủng khiếp) và drasil (ngựa). Yggr là một trong các biệt danh của Odin nên nghĩa của Yggdrasil được cho là "con ngựa của Odin", ám chỉ chín ngày Odin tự treo mình lên cây này để đổi lấy chữ rune. Thơ ca cổ Bắc Âu đôi khi gọi giá treo cổ là "con ngựa của kẻ chết treo". Một giả thuyết khác cho rằng Yggdrasil có nghĩa là "con ngựa khủng khiếp", tức là không liên quan gì tới Odin.

Truyền thuyết Yggdrasil


Fjolsvinnsmál, một bài thơ trong Edda bằng thơ gọi cây thế giới là Mimameidr (cây của Mimir). Yggdrasil có thể coi là đồng nhất với Lérað, cái cây có cành lá vươn tận Valhalla và là nguồn thức ăn cho con dê Heiðrún và con hươu Eikþyrnir.

Trong Edda, Yggdrasil được miêu tả là có ba rễ: một qua Asgard, một qua Jötunheim và một qua Hel. Phiá dưới rễ qua Asgard là giếng nước Urd (Urðabrunnr - còn gọi là "Giếng số phận"). Ở đó có ba nữ thần số mệnh (còn gọi là các Norn), những người không chịu ảnh hưởng của bất kỳ ai kể cả các thần linh.

Những nữ thần này hàng ngày lấy nước từ giếng Urd để tưới cho Yggdrasil giữ nó mãi xanh tươi. Dưới rễ qua Jötunheim là dòng suối (có nơi cho là giếng nước) của Mímir (Mímisbrunnr - còn gọi là "Suối, hay giếng, tri thức") và dưới rễ qua Hel là giếng Hvergelmir (có nghĩa là "cái chảo sôi").

Một con gà trống khổng lồ (hoặc một con chim ưng) tên là Vidofnir đậu trên ngọn của Yggdrasil. Con rồng Níðhöggr gặm phần rễ đi qua Niflheim của nó.